Thứ Bảy, 27 tháng 6, 2026

Con Người và Vật Chất

 

Cuộc sống của Con Người trên thế giới này đều dựa vào vật chất. Những nhu yếu như thức ăn, uống, đồ che thân, căn nhà cư trú. Tất cả là những vật chất cần thiết trong đời sống của loài người, không kể là sống ở đâu trên trái đất này, mọi người đều có nhu cầu như nhau. Ngoài nhu cầu vật chất Con Người còn có nhu cầu tinh thần. Bài viết này chỉ tập trung vào nhu cầu vật chất.

Nhu cầu vật chất càng ngày càng gia tăng theo sự phát triển của xã hội. Ngày xưa điện, mạng (internet), điện thoại không phổ biến nhưng ngày nay, những thứ đó là nhu cầu nhu yếu của đời sống Người. Dĩ nhiên không có mạng, không có điện thoại bạn vẫn sống được. Không có điện, đặc biệt nhà bạn nấu ăn bằng điện thì cuộc sống của bạn khó mà thực hiện nếu khả năng tài chính của bạn bị giới hạn, không thể đi ra ngoài ăn.

Nhu cầu vật chất của đời sống Người luôn luôn thay đổi theo từng thời gian. Vấn đề là phải biết cái nào là nhu yếu, cái nào không phải nhu yếu để biết thực hiện chuyện “liệu cơm gắp mắm” trong cuộc sống. Đi làm đồng lương ít mà đòi lái xe mắc tiền, hoặc chỉ muốn ăn bên ngoài thay vì mua thức ăn về tự nấu thì đây là cuộc sống vì vật chất.

Khi đời sống bản thân đạt được nhu cầu nhu yếu và có dư tiền, xếp vào loại giàu có thì lòng tham được nổi dậy, đặc biệt là thời điểm của ¼ thế kỷ 21 này. Lòng tham thì không bao giờ có đáy, cho nên càng giàu thì họ muốn giàu hơn, chiếm hữu nhiều hơn từ đó tạo ra sự bất ổn của xã hội.

Thế hệ sinh năm sau năm 1950, lòng tham được hiện rõ hơn so với thế hệ sinh trước 1950.

Thí dụ 1: Khi bố mẹ mất, một người sống ở Mỹ về Việt Nam để bán đất của bố mẹ. Bán xong cá nhân đó có thể không chia tiền cho anh chị em nếu muốn. Tuy nhiên, vì là thế thệ sinh trước 1950, lòng tham của họ rất ít, cho nên số tiền được chia cho mọi người trong gia đình.

Thí dụ 2: Cũng là hình ảnh ở Việt Nam, người giàu có trong gia đình, lợi dụng người mẹ lớn tuổi, không hiểu thủ tục giấy tờ của chế độ cộng sản, nghe lời đứa con, sang tên hết tài sản cho đứa con đó. Tuy người mẹ vẫn còn sống, nhưng hình ảnh sang tên này cho thấy cá nhân giàu có đó có một ý đồ tham lam. Tại sao trong gia đình rất nhiều người mà chỉ có một người muốn mẹ sang tên cho chính mình? Phải chăng lòng tham, sự giàu có muốn giàu có thêm, cho nên muốn chiếm đoạt tài sản của bố mẹ thay vì chia điều cho anh em trong nhà khi bố mẹ qua đời?

Thí dụ 3: Người mẹ qua đời tại California, tài sản người mẹ để trong cái Trust và được chia đều cho những đứa con còn sống. Thế nhưng khi cô em bán đi một căn nhà, thay vì chia cho người anh thì cô em bỏ vào cái trust, không đưa phần của người anh. Có lẽ lòng tham đã làm người em quên đi phần của ông anh mình.

Thí dụ 4: Khi người bố qua đời tại Mỹ thì một người trong gia đình, quyết thưa kiện cơ quan y tế tư nhân vì họ làm không cẩn thận để đưa đến cái chết của người bố. Thắng kiện với số tiền gần 400 ngàn. Dĩ nhiên luật sư bên thua kiện không muốn bị thưa kiện tiếp tục, họ bắt mọi người trong gia đình phải ký tên đồng ý với số bồi thường trên và không được thưa kiện tiếp tục. Thế là để lấy số tiền 400K đó, cần phải có chữ ký của những người trong gia đình mà họ không chủ trương thưa kiện. Người không tham sẽ chia đều số tiền đó dù rằng những người trong gia đình không chủ trương thưa kiện nhưng phải đồng ý với số tiền bồi thường. Tuy nhiên điều này không xảy ra, số tiền 400K đó được bỏ vài cái trust. Ai đứng tên cái trust đó thì bó tay, chẳng ai biết ngoài chính người đã đứng ra thưa kiện. Và người thưa kiện không nghèo khi đồng lương mỗi năm từ 300K đến 500K.

Lòng người gồm có hai mặt: Lòng tử tế (thiện) và lòng tham (ác). Đây là sự lựa chọn của cá nhân. Chọn lòng tham để chỉ nghĩ đến mình thì đời sống vật chất đã điều khiển suy nghĩ, hành động của bản thân. Ma Tiền đã làm chủ bản thân cá nhân đó. Khi tự mình không làm chủ mình mà để Ma Tiền làm chủ mình thì xã hội sẽ loạn, gia đình sẽ loạn.

Khi cuộc sống bản thân về vật chất không biết thế nào là đủ thì suốt cuộc đời sẽ không bao giờ biết đủ là gì và đó là điểm khởi đầu của sự loạn từ trong suy nghĩ bản thân, đưa đến chiến tranh (hiểu theo nghĩa rộng là xáo trộn gia đình, xã hội, và thế giới).

Hãy nhìn xuống để mà sống. Nhìn xuống để thấy rằng bản thân mình hơn rất nhiều người và sẵn sàng sống cần kiệm để giúp những người khác yếu kém hơn mình. Còn chọn nhìn lên thì chính bạn thân bạn chọn sống vì Vật Chất thay vì sống vì Tình Người.

Tự do đầu tiên và cuối cùng cũng xuất phát từ đó.

Vũ Hoàng Anh Bốn Phương

Tháng 3 năm 2026 (Việt lịch 4905)

https://nganlau.com/2026/06/24/con-nguoi-va-vat-chat/

 

Chủ Nhật, 21 tháng 6, 2026

Phê Phán Công Đường (P1)

Phê (bình) và Phán (quyết) Công Đường (trước công chúng).

Phê bình là một sự nhận xét công bằng (bình) tức là cả 2 mặt thuận (Pro) và nghịch (Con). Phê bình không phải là vuốt đuôi (kiểu mèo khen mèo dài đuôi) thì vô ích. Vì muốn phê bình một sự kiện, biến cố, tài liệu ... thì phải hiểu đầu đuôi câu chuyện, gốc tích, lịch sử, nguồn gốc, nguyên do, căn cơ, toàn diện cũng như yếu tố đặc biệt đóng góp vào diễn biến; kể cả các điều kiện ẩn hiện, xa gần và cuối cùng là vai trò của nhà phê bình phải độc lập, vô tư vì ích lợi của sự thật, tinh thần xây dựng tập thể không vì đảng phái, tham vọng hay sợ hãi. Do đó phải là nhân vật có tu dưỡng và người có tu dưỡng không có nhiều (có thể là tìm không ra). Vậy thì làm sao thực hiện Phê Phán Công Đường?

Nếu từ số ít tu dưỡng (thắng nhân) không có được thì có thể nào số nhiều (thiếu tu dưỡng) được dùng để thay thế (gọi là dân chủ) trong việc thực hiện công bằng (bình) xã hội?  Dĩ nhiên đám đông thì ô hợp, hỗn tạp về ý kiến, kiến thức, suy luận. Lấy quốc hội làm thí dụ cụ thể về một đám đông, được chọn lựa để làm luật đã bát nháo, mâu thuẫn, chống phá, âm mưu triệt hạ, phe nhóm khi làm luật và biểu quyết dự luật với đủ các thủ thuật để vượt qua luật pháp và ngay cả hiến pháp. Nếu làm luật đã như vậy thì thi hành luật (hành pháp) sẽ như thế nào? Và xử luật (tư pháp, toà án) sẽ ra sao? Phê Phán Công Đường có số thành viên tương đương với quốc hội thì sẽ góp ý chung để phê bình lập pháp, hành pháp, tư pháp sẽ là buổi chợ không bao giờ ngưng thì làm sao có kết quả về "phê" và "phán"?

Vì lý thuyết Duy Dân dựa trên "thiết giáo" và "sinh mệnh tâm lý" để thực hiện thắng nghĩa bởi thắng nhân. Nhưng thắng nhân từ đâu ra? Giáo dưỡng chế độ như thế nào để có người phục vụ trong Phê Phán Công Đường? Phê phán đòi hỏi lý luận. Nếu không nắm vững biện chứng pháp Duy Dân thì sẽ lý luận như thế nào?

Khi Phê Phán Công Đường là tập họp các tầng lớp dân trong xã hội thì đòi hỏi sự thống nhất về phê phán là điều khó thực hiện. Nhất là Cơ Năng Hiến Pháp đặt tư pháp, lập pháp thuộc về hành chánh (Trị) phục vụ cho cả Quốc Trưởng (hành pháp) lẫn Trung Tâm Hội Nghị (quốc hội). Một tòa xử không xong dẫn đến hành pháp và Trung Tâm Hội Nghị xung đột ý kiến thì Phê Phán Công Đường sẽ xử như thế nào để thực hiện đan quyền đúng như Cơ Năng Hiến Pháp vạch ra. Khi đan quyền là từng bước người dân tham dự để kiểm soát quyền lực được sử dụng đúng mức thì quyết định sẽ không thiên Tả hay Hữu, trên (lãnh đạo) hay dưới (đáy tầng).

Để đào tạo một thế hệ có tu dưỡng đạt công bằng với chính bản thân và xã hội là điều khó gần như không tưởng. Nhưng nếu không có thể hệ mở đầu thì sẽ không có thế hệ thứ hai, ba để tham dự Trung Tâm Hội Nghị và Phê Phán Công Đường. Phê phán thì phải trung thực với sự kiện. Nhưng "sự thật mất lòng" mà lại đòi hỏi đám đông (Trung Tâm Hội Nghị, Phê Phán Công Đường) nhất trí thì hơi khó nếu không nói là quá khó.

Tuy rằng thu phục "nhân tâm" phải dựa vào lòng (tâm) người thì quyết định của Phê Phán Công Đường phải đạt yếu tố đó. Vì phê bình và quyết định chỉ là phần đầu. Phần sau là thi hành. Cũng như tòa án xử án mà không thể thực hiện bản án thì vô ích vì công lý chỉ dừng tại lời nói. Vậy tòa án cần cảnh sát tư pháp để thực thi bản án (truy nã và bắt giam tội phạm). Nhưng đối với Phê Phán Công Đường thì đối tượng không phải là một cá nhân mà là cơ quan, tập thể thì biện pháp thi hành sẽ là gì? Ngoài việc vô hiệu hóa các hoạt động của cơ quan (bị phê phán) thì cắt giảm ngân sách (bị phê phán) hay thay thế nhân sự (bị phê phán) phải đạt hiệu quả tức thời (tự động) mà không cần phải có luật hay được thi hành bởi cơ quan công lực. 

Khó khăn khác của Phê Phán Công Đường là cơ quan trung ương do nhân sự các nơi, nghề nghiệp, kiến thức khác nhau thì khó mà tìm ra con số 300-500 nhân sự để tham dự Phê Phán Công Đường. Cho dù giảm thiểu xuống dưới 300 thì các nhân sự này có hội đủ điều kiện về thiết giáo, sinh mệnh tâm lý, và biện chứng pháp để tham dự tiến trình phê phán?

Nét độc đáo của Phê Phán Công Đường là tạo cơ hội thực hiện đan quyền có thể can thiệp vào hoạt động của Quốc Trưởng (hành pháp), tư pháp viện, lập pháp viện cũng như Trung Tâm Hội Nghị (quốc hội). Thay vì qua giới truyền thông (báo chí) phê bình, điều tra tam quyền phân lập rồi bị lệ thuộc tài chính hay áp lực (khi tam quyền rơi vào tay một đảng) sẽ mất tính độc lập.

Nếu lãnh đạo cơ quan (hành pháp) hay toàn thể (quốc hội) bị phê phán vì hành động (hay lời nói) thì ngoài chuyện hợp lý-lẽ còn là hợp ý dân (vì là tập thể từ dân). Nhưng hỏi vì sao xảy ra tình trạng đó khi các nhân vật nắm giữ vai trò đó (hành pháp, lập pháp) đều được tuyển chọn? Phải chăng để tránh sai lầm khi làm cấp trên thì phải có phê bình ngay từ cấp dưới? Chúng ta đã thấy trường hợp bộ trưởng bị điều tra đã sa thải trưởng ban điều tra. Cũng như tổng thống thay thế người nắm giữ bộ thanh tra (inspector general) hay tư pháp vì điều tra thân nhân hay người quen, bạn bè với tổng thống.

Vậy nếu phê phán không xảy ra từ cấp dưới để tu chỉnh sinh hoạt bảo vệ dân chủ, công bằng xã hội thì mọi thành công kinh tế chỉ lâu đài trên cát. Nhưng đa số cho rằng "phê phán" sẽ đưa đến tranh cãi làm mất hòa khí, đoàn kết. Đó là một sự ngụy biện vì biện chứng pháp đòi hỏi thực hiện phương pháp từng bước một theo căn bản Học (triết-khoa-sử) thì không còn vướng mắc về tôn giáo, chủng tộc....

Sinh hoạt phê phán cũng là cơ hội thử thách khả năng tu dưỡng của mỗi cá nhân trước tập thể. Có người cho rằng Duy Dân khó thực hiện nhưng khi hiến pháp với tam quyền phân lập đã thất bại thì tại sao không thử hiến pháp (Cơ Năng Hiến Pháp) mới? Cổ nhân đã nói "đường đi khó, không khó vì ngăn sông cách núi mà khó vì lòng người ngại núi e sông". Người khác lại cho rằng nếu "ai" cũng có tu dưỡng thì thành tiên, phật hết rồi khỏi mất công đi làm cách mạng. Đó là ngụy biện về tôn giáo vì con người có vận mệnh khác nhau nên mới có người khôn, kẻ ngu.

Kẻ ác lợi dụng người kém may mắn, gây bất công xã hội. Cách mạng là thay đổi xã hội hợp tình, hợp lý trên căn bản "Toại kỳ sở nhu. Tận kỳ sở năng. Chính kỳ sở mệnh". Công bằng xã hội đòi hỏi minh bạch (transparency). Minh bạch đòi hỏi sự thật (sống biết, sống đúng, sống thật). Muốn biết sự thật phải biết phê phán, lý luận biện chứng chứ không thể "tin nơi thượng đế “ (in god we trust) hay thề trên kinh thánh, bàn thờ tổ quốc hay quốc kỳ.

Khi công lý dựa trên chữ nghĩa đã chết (không thay đổi) nhân danh thần công lý (không thấy đường vì bịt mắt) mà phán quyết không giải thích. Bản án không thống nhất với tội phạm. Cơ hội và hình phạt không tương xứng giữa nạn nhân và tội nhân khi quan hệ giữa tòa án và bộ tư pháp là tranh chấp quyền lực không có người dân tham dự.

Phê Phán Công Đường (P2)

Trần Công Lân

Tháng 5 năm 2026 (Việt lịch 4905)

https://nganlau.com/2026/06/15/phe-phan-cong-duong-p1/

 

Phê Phán Công Đường (P2)

 

Cơ cấu và con người

Con người lập thuyết đưa ra cơ cấu công quyền. Nhưng chính quyền cũng do con người điều hành. Từ quân chủ chuyên chế sang quân chủ đại nghị, từ dân chủ tư bản đến dân chủ cộng sản, dân chủ đại nghị đến dân chủ xã hội ... vẫn chưa đem lại hòa bình cho thế giới vì thiếu tiêu chuẩn chung: cương thường.

Tôn giáo đã thất bại khi không thực hiện được hòa bình nơi cá nhân. Tôn giáo đem lại xung đột thì không còn là tôn giáo mà trở thành tà giáo và không còn lý do tồn tại cho dù có hàng triệu tín đồ hay tiền bạc. Đặc  điểm là tà giáo hay độc tài đều chống lại sự phê phán, minh bạch. Do đó Phê Phán Công Đường là cơ quan cần thiết cho hòa bình thế giới và công lý cho nhân loại.

Có thể nào thông minh nhân tạo (AI) sẽ giúp tiến trình thực hiện Phê Phán Công Đừng nhanh hơn chăng? Nếu ai tin rằng AI sẽ giúp tiến trình Phê Phán này thì cần phải suy nghĩ lại. AI là sản phẩm của Con Người và Con Người xấu sẽ tạo AI thành sản phẩm xấu có hại đến xã hội. Cần phải biết AI dùng vào việc nào bởi nếu không sẽ gây xáo trộn. Phải hiểu "Căn bản luận" của AI phát xuất từ trung tâm tin tức (data center). Tiến trình thu thập tin tức của các trung tâm do công ty X trách nhiệm (đúng, sai, hư, thực, chưa ngã ngũ, chưa rõ rệt hay dứt khoát; vấn đề Y được xác định năm A, phủ định năm B thì sẽ thông tin A va B hay chỉ có B, bỏ A...). Nếu AI của công ty Google nói một đàng, AI của công ty Microsoft nói một nẻo khác thì bạn tin theo ai?

AI có thể có lý trí nhưng có tình cảm không? Chắc chắn là không. Các nhà sản xuất AI chỉ nhìn được một chiều (ích lợi của AI đem lại) mà chưa nhìn ra chiều nghịch (hại như thế nào). Khi chưa giải quyết sai lầm quá khứ về tự do, dân chủ, nhân quyền, bình đẳng... mà chỉ muốn lao đầu về phía trước chỉ vì ích lợi cho kẻ chụp giựt, bỏ chạy và để lại đống rác cho thiên hạ chịu. 

Khi vũ trụ tiếp tục bành trướng (sau Big Bang), loài người tăng dân số, thiên nhiên thay đổi ... nếu con người không chấp nhận phê phán để sửa đổi thì sẽ tận diệt như các nền văn minh trước đây. Khuynh hướng "bảo thủ" sẽ không thể nhắm mắt, bịt tai để duy trì giá trị "bảo thủ" mãi khi bên ngoài thay đổi. Khuynh hướng "tiến bộ" cũng phải xét lại hướng tiến đi về đâu?

Nếu không chấp nhận phê phán, mạng xã hội không thể là nơi thăm hỏi ý kiến, hội ý, ăn cắp ý kiến, xúi giục thời trang ... để trở thành lãnh đạo hay nhân vật có ảnh hưởng qua tin giả. Khi tiến bộ kỹ thuật, khoa học nằm trong tay một số tài phiệt không chấp nhận phê phán (vì đã mua chuộc giới truyền thông) thì còn nguy hiểm hơn độc tài. Vì độc tài cần dân để cai trị (Trung Cộng). Còn tài phiệt dùng dân để thí nghiệm khả năng và sản phẩm mới (Covid, Ebola, Hantavirus).

Để xây dựng lại chế độ dân chủ, chúng ta cần người tìm hiểu Duy Dân để học tập phê phán. Điều này không có nghĩa là cứ phê phán sẽ hiểu Duy Dân hay biết Duy Dân mà không chấp nhận phê phán. Một xã hội lành mạnh, tử tế cần có con người lành mạnh, tử tế.

Duy Dân có thể khó thực hiện nhưng trong thế giới Âm Dương thì không thể tồn tại một chiều vì Sinh-Thành-Hoại-Diệt tiếp nối. Khi người dân ý thức chết dưới chế độ độc tài hay chết vì tranh đấu cho tự do, dân chủ thì cái chết giống nhau nhưng bài học cho con cháu khác nhau.  Nghiệp khó thay đổi nhưng Mệnh nối tiếp nhau thành Nghiệp. Có "chính kỳ" thì mới "sở Mệnh". Biết Mệnh thì mới giải Nghiệp. Muốn biết Mệnh lý thì phải biết Âm Dương (dịch học), biết cân bằng qua phê phán bản thân. Từ công bằng cá nhân sẽ đi đến công bằng xã hội.

Khi hiến pháp quy định cơ chế chính quyền mà dân chủ có nghĩa đa đảng. Tuy đảng chính trị là tập hợp nhân sự cùng chí hướng nhưng làm sao có sự khác biệt khi các đảng có cùng mục tiêu xây dựng dân chủ nhưng khác phương thức làm việc. Làm sao biết đảng nào có đường lối hữu hiệu để thực hiện mục đích nếu không có lý thuyết. Từ lý thuyết dẫn đến kế hoạch. Kế hoạch đòi hỏi thảo luận: nội bộ hay công chúng? Qua bầu cử, dân chọn đảng A thực hiện kế hoạch thì nếu thất bại là trách nhiệm chung. Nhưng còn đảng đối lập? Một khi A thất bại cho thấy kế hoạch của B (đối lập) đúng thì (1) A tự động sửa sai. (2) Dân yêu cầu A sửa sai. (3) Phải chờ bầu cử để B thay thế. Vậy thì càng nhiều đảng thì dân càng mất thời giờ theo dõi sinh hoạt các đảng. Vậy có nên giới hạn tối đa 3 đảng để tránh rơi vào cực đoan Tả-Hữu?   

Nhưng "sở mệnh" không dễ khi cá nhân không nhận thức được chính mình thuộc "Đức tầng" (lý tưởng, nhân cách, sinh mệnh), "Nghiệp tầng" (sáng ý, quản lý, hành động) hay "Tri tầng" (bất tri, hậu tri, tiên tri). Tri kiến không đến từ sở học nơi trường (thông minh) mà đến từ tu dưỡng (khôn ngoan). Giáo dục Tây phương chỉ là huấn nghệ: thi cử lấy bằng cấp nhưng không bảo đảm ai cũng giỏi và thành công. Khả năng và tất năng (năng khiếu) bị lạm dụng vì lợi nhuận.

Kinh tế thị trường tạo cơ hội thăng tiến năng khiếu (không có nhiều) thì ép buộc khả năng làm thêm giờ để đạt hiệu suất cho dù gây thiệt hại thân-tâm kẻ theo đuổi vì tham lợi. Có hiến pháp nào quy định chính quyền bảo vệ an sinh cho người dân phải lao động quá mức khi thân và tâm bị giới hạn? Khi các đảng chính trị tranh quyền lực đã kêu gọi "tự do" chọn lựa, làm giàu, tìm hạnh phúc... mà không phơi bày mặt trái của vấn đề khi chọn lựa? Hay cho rằng người dân không quan tâm đến sự phê bình? Bỏ qua phê bình tức là bỏ qua công bằng thì khi thất bại cho dù không khiếu nại cũng trở thành gánh nặng xã hội.

Kết

Thực hiện Phê Pháp Công Đường theo Duy Dân là một trong những khó khăn của Cơ Năng Hiến Pháp nhưng cũng là động cơ chính của đan quyền cho phép người dân can thiệp tức thì vào các hoạt động của Quốc Trưởng và Quốc Hội khi trái ngược ý dân chứ không đợi tới mùa bầu cử sắp tới. Hành pháp dân chủ chỉ cho phép người dân làm chủ vào ngày bầu cử rồi sau đó ngồi xem giới lãnh đạo tung hoành thì đó là dân chủ nửa đường và nửa sự thật thì không hoàn toàn là sự thật.

Trần Công Lân

Tháng 5 năm 2026 (Việt lịch 4905)

https://nganlau.com/2026/06/15/phe-phan-cong-duong-p2/

 

 

Chủ Nhật, 7 tháng 6, 2026

Con Người và Cơ Năng Hiến Pháp

 

Trong cộng đồng Việt Nam, từ Mỹ đến Úc, đã có người viết một bản hiến pháp cho một Việt Nam tự do dân chủ. Những bản hiến pháp này dựa vào cơ chế hiện tại mà họ đang sống để dựng lên một bản hiến pháp cho Việt Nam tương lai. Đây là một cố gắng tốt. Nhưng rồi đến ¼ thế kỷ thứ 21, thực tế chứng minh là cơ chế Tam Quyền Phân Lập của Mỹ hoàn toàn phá sản.

Cơ chế Mỹ lúc được hình thành do những người tốt, có tâm niệm phục vụ xã hội để thành lập một cơ chế hầu tránh chuyện độc tài, độc quyền xảy ra mà họ đã từng trốn chạy từ bên Âu Châu. Tuy nhiên khi những người sáng lập ra nước Mỹ, tuy có lòng tốt, họ vẫn kỳ thị cho nên dù tuyên bố mọi người sinh ra bình đẳng nhưng thực tế, người nô lệ Mỹ đen, người phụ nữ hoàn toàn không có quyền đi bầu cử ở cái thời điểm trên. Tuy rằng sau này lỗ hổng đó được sửa đổi nhưng nhiều lỗ hổng khác được lộ ra và không thể nào sửa đổi dưới cơ chế đảng tranh hiện giờ.

Muốn đề nghị một cơ chế hiến pháp thì điều quan trọng phải hiểu được sinh hoạt của Con Người ra sao. Điều này ít ai quan tâm ngoại trừ Lý Đông A, người viết ra tư tưởng Duy Dân, khó hiểu bởi sự súc tích mà người đọc cần phải lắng đọng tâm để hiểu và diễn giải vào đời sống thực tế. Chính vì sự khó hiểu này, tư tưởng Duy Dân được viết từ hồi 1940 đến hôm nay vẫn chưa có bao nhiêu người nắm rõ để đem vào thực tế, gồm cả những người gọi là đảng viên Duy Dân.

Là người quan tâm đến Con Người và Xã Hội, Lý Đông A quan sát sinh hoạt của Con Người để từ đó ông dựng lên một cơ chế gọi là Cơ Năng Hiến Pháp. Ông không dùng từ ngữ Hiến Pháp mà ghép chữ Cơ Năng vào cái Hiến Pháp đó bởi ông tin rằng sinh hoạt của một cơ chế phải dựa vào thuyết Cơ Năng và Bản Vị từ tư tưởng Duy Dân thì mới đạt được hiệu quả cao.

Chính quyền được hình thành từ những Con Người quan tâm đến sinh hoạt của đời sống người và chính quyền được hình thành bởi cái mục đích là Thiết Kế và Chấp Hành Nhân Sinh chứ không phải là mục đích được lãnh đạo, được ăn trên nằm trước, được nằm trên luật mà hình ảnh sinh hoạt chính trị của Mỹ hiện rõ.

Tiêu chuẩn đầu tiên của những người tham gia vào công việc Thiết Kế và Chấp Hành Nhân Sinh này phải là người có đạo đức và phải từng phục vụ trong quân đội. Tại sao thế? Bởi một người không có đạo đức, họ sẽ xem thường đời sống của Nhân Sinh, họ sẵn sàng đưa ra những chính sách đi ngược lại đời sống của Nhân Sinh.

Những người lãnh đạo nằm trong Cơ Năng Hiến Pháp có những quyết định ảnh hưởng đến đời sống của người dân thuộc bên nhánh Chính Trị Tổng Cơ {Quốc Trưởng (tương đương với tổng thống), Trung Tâm Hội Nghị (quốc hội), Phê Phán Công Đường (cơ chế này các quốc gia hiện tại hoàn toàn không có)} đều phải đạt tiêu chuẩn đạo đức, nhân cách, tài năng và thời gian phục vụ bị giới hạn gồm cả tuổi tối thiểu và tối đa trong thời gian phục vụ cơ chế Chính Trị Tổng Cơ.

Vị Quốc Trưởng phải ở lứa tuổi 50-65 trong lúc tại vị. Thời gian phục vụ là 9 năm (được tái nhiệm một lần) cho một nhiệm kỳ. Tuy nhiên người viết bài này đề nghị là mỗi nhiệm kỳ 5 năm, được tái nhiệm một lần. Tức là tối đa Quốc Trưởng chỉ được phục vụ 10 năm.

Những người nằm trong Quốc Hội thì tuổi từ 40 đến 60 trong lúc tại vị. Mỗi một nhiệm kỳ là 4 năm và chỉ làm tối đa là ba nhiệm kỳ.

Phê Phán Công Đường phải ở tuổi 55 đến 70 nếu là những người có kinh nghiệm sinh hoạt trong cơ cấu chính quyền. Còn nếu tuyển chọn từ thường dân thì tuổi từ 60 đến 75 trong lúc tại vị. Những người trong cơ quan này chỉ phục vụ tối đa là 10 năm trong giới hạn tuổi đã ấn định. Vì là cơ quan phê phán cho nên đòi hỏi tuổi đời cao để có thể nhìn vấn đề rõ ràng trên lãnh vực Nhân Sinh hầu phê phán cho đúng sự việc, sự kiện.

Tất cả những người trong ba cơ cấu này bị kiểm soát bởi Kê Sát Viện (bên Hành Chính Tổng Cơ) về mặt Nhân Cách, Tư Cách.

Hành Chính Tổng Cơ là một cơ năng khác trong hệ thống lãnh đạo quốc gia. Hành Chánh Tổng Cơ có 6 viện: Nghiên Cứu Viện, Lập Pháp Viện, Hành Chính Viện, Quan Chính Viện, Tư Pháp Viện, và Kê Sát Viện. Đây là bộ phận hành chính, phục vụ cho nhu cầu của Chính Trị Tổng Cơ. Đây là cơ quan của những người chuyên môn cho nên thời gian phục vụ không bị giới hạn vì họ hoàn toàn không có những quyết định ảnh hưởng đến đời sống của người dân. Họ chỉ dựa vào những hiểu biết của chuyên ngành mình để phục vụ nhu cầu của các bộ phận khác trong cơ cấu chính quyền.

Chi tiết của những cơ quan này sẽ được trình bài trong một số bài nói về Cơ Năng Hiến Pháp, được sửa đổi cho phù hợp với tình hình thực tế của thế kỷ thứ 21, tuy nhiên vẫn dựa vào nguyên tắc chính của tư tưởng Duy Dân là Con Người và cơ chế hầu tránh chuyện độc tài xảy ra.

Vũ Hoàng Anh Bốn Phương

Tháng 5 năm 2026 (Việt lịch 4905)

https://nganlau.com/2026/06/07/con-nguoi-va-co-nang-hien-phap/

 

Chủ Nhật, 24 tháng 5, 2026

Duyên hay Nghiệp?

Cuộc sống thường hay dính liền với Duyên và Nghiệp. Nắm rõ hai ý niệm này để không phải buồn chán khi nhìn mọi vấn đề và để tâm được thanh thản sống, làm việc thay vì lo những chuyện không cần phải bận lo.

Duyên

Duyên là một cơ hội, một tình cờ. Vì đó là một cơ hội, một tình cờ, cái duyên đó đôi khi đến và đi. Cho nên không có gì ngạc nhiên khi quen ai đó, hoặc khi làm việc với ai đó, tự nhiên họ không còn muốn làm việc chung nữa. Đơn giản là duyên đã chấm dứt.

Hãy nhìn vào thực tế đời sống để thấy hình ảnh duyên ra sao. Thí dụ những người đấu tranh cho dân chủ của Việt Nam. Khởi đầu vì một hình ảnh bất xúc nào đó, họ sẵn sàng lên tiếng, biểu tình để đánh lên tiếng nói cảnh tỉnh cho mọi người và giải tỏa được tâm-sinh-lý trong bản thân trước hình ảnh hiện tại. Cái duyên đó được thử thách một thời gian và số đông những người đó sẽ chẳng còn quan tâm đến chuyện đấu tranh nữa bởi hình ảnh đấu tranh họ đã làm chỉ là một sự tình cờ, một cơ hội đưa đến trong khoảnh khắc của cuộc đời và nó chấm dứt ở một thời điểm nào đó.

Thí dụ bên trên dành cho những người đấu tranh. Tuy nhiên nếu nhìn cuộc sống thì từ người cầm bút, ca sĩ, nhạc sĩ, tình nguyện viên cho công việc thiện nguyện, cuộc sống lứa đôi đều có thể chấm dứt ở bất cứ thời điểm nào đó khi cái duyên đã hết.

Nghiệp (nợ)

Mọi sự việc đều khởi hành từ Duyên. Thời gian thử thách cái duyên đó và cái duyên trở thành nghiệp hay còn gọi là nợ.

Nghiệp là cái gắn liền với bản thân. Dù nghèo khổ hay giàu có, cá nhân đó vẫn tiếp tục theo đuổi công việc mà duyên đã tạo ra. Những người đấu tranh từ thuở nhỏ chống lại sự bất công và tiếp tục làm công việc đó dù họ nghèo hay giàu, dù họ không còn sống ở nơi bất công họ vẫn bỏ thời gian, công sức để thực hiện chuyện đấu tranh mà không hề bỏ cuộc. Cho dù họ là người duy nhất tại địa phương quan tâm đến chuyện đấu tranh, họ vẫn lặng lẽ tự chính mình làm mà không nản lòng, không bỏ cuộc. Đơn giản bởi đó là Nghiệp của chính bản thân họ.

Nhiều người thường hay phê phán ai đó ăn cơm nhà vác ngà voi (làm việc giúp người). Thực ra những ai làm chuyện ăn cơm nhà vác ngà voi bởi đó là nghiệp của chính bản thân họ, họ không thể nào ra khỏi cái suy nghĩ, hành động giúp người khác cho nên họ tiếp tục suốt cuộc đời còn lại của họ nếu sức khỏe họ cho phép.

Cuộc sống vợ chồng, bạn bè cũng khởi đi từ Duyên dẫn đến Nghiệp (nợ). Duyên dứt thì mọi thứ sẽ tan. Duyên còn mãi thì sẽ biến thành Nghiệp.

Phải luôn luôn chuẩn bị tinh thần trong cuộc sống để khi duyên đến và đi thì tâm thần không bị hụt hẫng, không cảm thấy cô đơn. Nếu mình là người duy nhất đang làm chuyện đấu tranh tại địa điểm A thì không có nghĩa là mình cô đơn mà ở địa điểm B, C, D cũng có những con người đấu tranh như chính mình. Đóng góp của mỗi người ở điểm A, B, C, D sẽ tạo ra một bức tranh; để khi duyên đến thì bức tranh sẽ được hình thành một cách tự nhiên, như là một sự chuẩn bị có tính toán.

Dĩ nhiên điều này khó làm nhưng khó không có nghĩa là không làm được. Phải tập luyện tâm của bản thân để hiểu rõ sự khác biệt của Duyên và Nghiệp. Từ đó không phải bận tâm khi một cuộc chia tay nào đó xảy ra. Mỗi cuộc chia tay là một bài học cho bản thân về Con Người, cuộc đời, quan điểm của cuộc sống.

Vũ Hoàng Anh Bốn Phương

Tháng 2 năm 2026 (Việt lịch 4905)

Nguồn: https://nganlau.com/2026/05/24/duyen-hay-nghiep/

 

 

 

Thứ Bảy, 24 tháng 1, 2026

Nền Tảng Tư Tưởng Duy Dân

 

Tư tưởng Duy Dân có từ thời 1940 của Lý Đông A viết ra. Từ thời đó cho đến này, rất nhiều người, gồm cả những người nằm trong các tổ đảng Duy Dân, viết nhiều về tư tưởng này. Tuy nhiên những điều viết đó chỉ là sự lập lại những gì Lý Đông A viết và không có gì mới lạ hơn để người đọc có thể áp dụng vào đời sống thực tế bản thân, thay vì nghe những lý luận trên mặt triết học.

Sự thất bại (nếu hiểu theo nghĩa chưa được phổ biến rộng rãi) của học thuyết Duy Dân không phải học thuyết đó không thực tế mà những người học những học thuyết đó không nắm rõ nền tảng nào cần phải có để hiểu rõ được tư tưởng Duy Dân. Chính vì không nắm rõ nền tảng cho nên tư tưởng Duy Dân vẫn có giá trị trên mặt lý luận nhưng không có giá trị về mặt thực hiện. Đọc và hiểu tư tưởng Duy Dân chỉ là một khía cạnh của đọc nhưng để gọi là hiểu thì phải thấy được đời sống thực tế đó hiện rõ trong tư tưởng Duy Dân ở chổ nào. Hiểu sai tức là đã không nắm rõ tư tưởng đó.

Nền tảng tư tưởng Duy Dân phải bắt đầu từ những người quan tâm về Con Người và Xã Hội. Cần phải nhấn mạnh là quan tâm về Con Người và Xã Hội bởi nếu quan tâm về xã hội (mặt nổi) mà không quan tâm về con người thì chỉ nhìn cái ngọn mà không nhìn cái gốc. Mọi biến loạn của xã hội phát xuất từ Con Người. Đó là lý do tại sao, tư tưởng Duy Dân bắt buộc khởi đầu từ Con Người.

Để có một Con Người Duy Dân cần phải có một nền giáo dục Duy Dân. Nhưng trước hết, phải có những Con Người nhìn ra được giá trị thực tế của tư tưởng Duy Dân, phải có những Con Người tự họ đã là Duy Dân qua sự tu dưỡng ở bản thân để có sự giác ngộ hầu nhìn ra được hình ảnh Duy Dân ở thực tế đời sống ra sao, hoặc phát hiện ra hình ảnh phản Duy Dân để tránh bước vào vết xe đổ.

Nền tảng căn bản của tư tưởng Duy Dân phát xuất từ sự tu dưỡng của mỗi cá nhân trong xã hội. Tu dưỡng ở mỗi Con Người có nhiều cấp độ khác nhau nhưng có một điểm chung là cuộc sống không những phục vụ cho chính mình, gia đình mình mà phải quan tâm đến xã hội, có trách nhiệm với xã hội.

Tương quan của mọi con người sống trên trái đất này là tương quan hỗ tương từ nền tảng xã hội. Đời sống người của thời đại là đời sống của hợp hòa cùng xã hội. Trong cái hợp hòa đó, sự dung hòa giữa quyền lợi cá nhân và xã hội, xã hội và cá nhân là sự dung hòa cần thiết để bảo đảm quyền lợi của cá nhân đồng thời không ảnh hưởng đến quyền lợi của xã hội. Làm được điều này cần phải có những Con Người có nền tảng tu dưỡng để sự dung hòa dễ dàng xảy ra.

Sự tu dưỡng mỗi cá nhân tạo ra sống thật, sống biết, sống đúng.

Sống thật mang nhiều ý nghĩa gồm cả sống không giả dối, sống với đời sống phù hợp với bản thân mình. Sức mình 10 mà đòi hưởng thụ 100 thì đó không phải là sống thật. Mình giỏi làm việc A mà đòi làm việc B thì rõ ràng không sống thật với chính khả năng của mình. Mình nói dối mà cứ nói là mình nói thật thì đây không phải là sống thật.

Sống biết là biết quan sát những người chung quanh để phát hiện những con người giả dối, ngụy biện. Sống biết để nhận diện được những Tham-Sân-Si của bản thân hầu điều khiển cái Tham-Sân-Si của chính mình thay vì để ba cái đó điều khiển Con Người của mình. Tham-Sân-Si luôn luôn có sẵn trong mỗi người và đó là sự tự nhiên của đời sống người. Tuy nhiên cái tự nhiên đó có thể được dung hòa để không đi đến quá độ, ảnh hưởng đến những người khác trong xã hội.

Sống đúng là sống không hổ thẹn với lương tâm của mình. Dĩ nhiên vấn đề này không đơn giản bởi khi nói đến lương tâm thì nhiều người thường hay hiểu lầm là lương tâm của A có thể khác lương tâm của B. Đây chỉ là sự ngụy biện. Đã là Con Người thì cái lương tâm của Con Người là lương tâm của mỗi người. Mình không muốn người khác lừa gạt, nói dối với mình thì chính mình không làm chuyện lừa gạt, nói dối với người khác.

Tu dưỡng bản thân hay còn gọi là Tu Dưỡng Thắng Nhân (tu dưỡng để thắng Tham-Sân-Si của chính mình, để tạo ra sự giác ngộ ở bản thân) là đề tài với nhiều chủ đề được khai triển trên trang mạng Ngàn Lau và đây là nền tảng căn bản của tư tưởng Duy Dân. Không có những nền tảng này thì khó mà thấu hiểu được chiều sâu của tư tưởng Duy Dân về Con Người.

Cho dù xã hội có những Con Người Duy Dân để hình thành một chính quyền Duy Dân nhưng Con Người luôn luôn thay đổi (tốt hơn hoặc xấu hơn) cho nên một cơ cấu chính quyền được gọi là Cơ Năng Hiến Pháp để thanh lọc những thành phần xấu, sửa đổi những chính sách sai lầm của giới lãnh đạo do sự phản ảnh của người dân chứ không phải chờ đợi đến mùa bầu cử.

Đấy chính là nền tảng từ Con Người đến Cơ Chế Chính Quyền. Có mấy ai thấy được giá trị của nền tảng đó? Có lẽ một học viện Duy Dân cần ra đời để mở những lớp huấn luyện nói về nền tảng Duy Dân và cơ chế Duy Dân ở tương lai. Phải xây dựng lại nền tảng của Con Người nếu không Con Người sẽ bị thời đại điện toán biến hóa họ thành những Con Người ỷ lại vào AI thay vì dựa vào chính bản thân để suy nghĩ, suy luận, suy xét và tự bản thân làm chủ lấy mình để trở thành một Con Người Nhân Chủ trước khi thực hiện Dân Chủ trên nền tảng Nhân Chủ đó.

Vũ Hoàng Anh Bốn Phương

Tháng 12 năm 2025 (Việt lịch 4904)

Nguồn: https://nganlau.com/2026/01/07/nen-tang-tu-tuong-duy-dan/

 

Con Người và Vật Chất

  Cuộc sống của Con Người trên thế giới này đều dựa vào vật chất. Những nhu yếu như thức ăn, uống, đồ che thân, căn nhà cư trú. Tất cả là nh...