C. Tri tầng
Tri tầng chú trọng đến khả năng biết,
thấy (qua sự hiểu biết, kiến thức) của mỗi cá nhân tuy rằng mỗi người đều có thị
giác (mắt) để quan sát học hỏi nhưng Tâm có ghi nhận, giữ lâu dài và vận dụng
cái biết vào cuộc sống hay không. Cũng do chịu ảnh hưởng của Đức và Nghiệp nên
có người nhớ dai, học giỏi nhưng không thành tài hay giúp ích cho xã hội.
Tiên tri tiên giác (biết trước, thấy trước): Có hạng người do tu dưỡng đạt
tới trình độ "biết trước, thấy trước" sự việc xảy ra do quan sát các
sự kiện, dữ kiện liên hệ (thấy trước không phải bằng mắt mà bằng trí quan sát).
Khả năng này liên quan tới Đức và Nghiệp chứ không do đi học ABC mà có.
Hậu tri hậu giác (biết sau, thấy sau): Có hạng người do học hỏi mà biết
sau khi sự học hoàn tất (hậu tri) và từ đó đạt được cái thấy do hậu quả của sự
học và biết (hậu giác). Đó là hạng người có thể huấn luyện và sử dụng lâu dài.
Bất tri bất giác (không biết, không thấy): Có hạng người tuy có huấn luyện
nhưng vẫn không nắm lấy cái biết (bất tri) và cũng không thấy cái cần phải làm
của mình (bất giác) vì tâm trí không tập trung hay không chấp nhận vì nhiều lý
do. Đây không phải loại người mắc bệnh tâm trí mà chỉ là hạng bê bối, thờ ơ,
mang tâm lý lợi dụng xã hội, tha nhân.
Cũng trong cùng tài liệu Sinh Mệnh
Tâm Lý, LĐA nhắc đến
“Chủ quan thiên tính và
tâm lý cơ cấu: Chủ quan thiên tính và tâm lý cơ cấu phối hợp với khách quan, thời
gian và không gian kinh qua các phạm trù nhu yếu và khái niệm mà hình thành các
tính nghiệp, tình nghiệp và ý nghiệp. Tính nghiệp là do tàng-trụ-tính, tàng- trụ-thức
và nghiệp hành (karma) xã hội mà hình thành. Tình nghiệp và ý nghiệp cũng vậy,
tức là những thiên tính hậu thiên (tập quán và xã hội nhân quả, duyên nghiệp)”.
a. Tính Nghiệp: Ca dao tục ngữ VN có câu "cha mẹ sinh con, trời
sinh tính". Từ cá tính cho thấy Tâm của cá nhân đã suy nghĩ, học hỏi những
gì để thực hiện trong đời sống bản thân. Theo năm tháng, hành động của Thân kết
thành Mệnh. Đó là ý nghĩa của Tính-Tâm-Thân-Mệnh.
b. Tình Nghiệp: Con người có lý trí và tình cảm nhưng không phải ai
cũng cân bằng được hoạt động của Lý và Tình. Đó cũng là lý do để tu dưỡng vì sự
thiên lệch của Lý hay Tình đều đưa đến khủng hoảng trong đời sống con người. Con
người rối loạn thì xã hội rối loạn. Đó là nguồn gốc của xã hội tâm lý và gia
đình tâm lý.
c. Ý Nghiệp: Con người có đầu óc để suy nghĩ nhưng không phải ai
cũng có ý chí cho dù có cùng học thức, kiến thức, giáo dục.... Vì sao đứa trẻ từ
nhỏ có khuynh hướng ABC? Tại sao cùng sở thích, đam mê, học vấn... mà có trẻ
thành công, thất bại cho dù cha mẹ, thầy cô có khuyến khích hay không? Tại sao
trẻ trong hoàn cảnh khó khăn, nguy hiểm lại có quyết tâm, năng lực cao hơn đứa
trẻ trong bình yên? Có kẻ nản lòng thối chí nửa đường hay thay đổi với điều kiện
ABC trong khi kẻ khác vẫn duy trì ý chí trước sau như một? Làm sao tạo ý chí và
chuyển tải ý chí từ người với người vẫn là điều bí mật mà chỉ có kẻ tu dưỡng
thâm sâu mới hiểu (nếu trải qua: Nhân tướng, Ngã tướng, Pháp tướng, và Thọ tướng).
Kết
Như vậy tầng A, B, C là hàng ngang
và sự phân chia theo các tầng là hàng dọc. Sinh mệnh tâm lý từ cá nhân (người)
vào xã hội, mỗi hạng người là hàng dọc, xã hội là hàng ngang thăng tiến mọi người
nhưng thay vì tự lực tiến lên đóng góp cho xã hội (tung hợp) thì con người quay
ra chèn ép bóc lột lẫn nhau để thống trị xã hội.
Hiểu Sinh Mệnh Tâm Lý cũng như xã hội
sinh mệnh là yếu tố căn bản để biết "phân công, phân lợi, phân mệnh".
LĐA đưa ra "toại kỳ sở nhu, tận kỳ sở năng" để có "chính kỳ sở mệnh"
vì phải có tu dưỡng để chuẩn bị cho bản thân (cá nhân) nếu muốn đóng góp cho đời
sống xã hội (xã hội sinh mệnh) thì mệnh của cá nhân phải phù hợp với "mệnh"
của xã hội.
Sinh mệnh cá nhân và xã hội đan (quyền)
với nhau để thành cấu trúc Duy Dân. "Chính kỳ sở mệnh" cũng là điều
kiện thanh lọc hàng ngũ của Duy Dân vì kẻ giả Duy Dân sẽ không vượt qua được
giai đoạn tu dưỡng (toại kỳ sở nhu, tận kỳ sở năng) cho dù (giả sử) có vượt qua
thì "chính kỳ sở mệnh" không phải ai muốn cũng được như ý.
"Tính-Tâm-Thân-Mệnh" cũng
là một cách khác để nhìn người: khi "Tính" tình của một cá nhân cho
biết "Tâm" của cá nhân đó. Tâm được phối hợp với "Thân"
(tinh thần và vật chất là hỗ tương nguyên nhân) mà "Thân" thì đi liền
với "Mệnh". Biết "Tính" thì có thể đoán "Mệnh".
Đó cũng là lý do tài liệu Duy Dân được lưu truyền mà không (hay chưa) phát triển
vì kẻ giả Duy Dân có rất nhiều nhưng không dẫn chứng được quá trình tu dưỡng để
giải thích nét đặc sắc thuyết Duy Dân của LĐA.
Tư tưởng Duy Dân dành cho những ai
có tu dưỡng để nắm (hiểu) xã hội sinh mệnh (Đức-Nghiệp-Tri) chứ không phải dùng
để mưu đồ chính trị. Nói đến Duy Dân là nói đến cách mạng. Cách mạng đòi hỏi tu
dưỡng. Hãy nói về quá trình tu dưỡng của bạn trước khi đi tìm (hay nói) Duy
Dân.
Trần Công Lân
Tháng 4 năm 2025 (Việt lịch 4904)
Nguồn: https://nganlau.com/2025/07/01/xa-hoi-sinh-menh-p3/
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét