Chủ Nhật, 1 tháng 11, 2026

Cơ Năng Hiến Pháp Trên Nền Tảng Duy Dân: Chính Trị Tổng Cơ (P3)

 

c.  Phê Phán Công Đường

Dưới cơ chế Duy Dân, người dân có một bộ phận riêng biệt để kiểm soát những cơ cấu trong chính quyền nhằm điều chỉnh những quyết định sai lầm của các cơ quan hành chính lẫn chính trị trong cơ cấu nhà nước. Chính vì thế mà cơ cấu Phê Phán Công Đường là một cơ quan để người dân thực hiện chuyện điều chỉnh những sai lầm trong cơ cấu nhà nước nằm bên chính trị. Trong khi Kê Sát Viện kiểm soát về mặt hành chính.

1.  Phê Phán là quyền phản tỉnh của quốc dân trên sự nắm giữ vận mệnh của mình. Đây chính là Chính Trị Phê Phán.

2.  Phê Phán Công Đường là cơ quan tối cao cho quyền phản tỉnh, quan sát và phê phán những quyết định (hay ý định, dự tính) của các cơ cấu nhà nước có ảnh hưởng đến đời sống của người dân. Sự phê phán cho những sự kiện đã xảy ra hoặc sẽ xảy ra (ngăn chặn sự kiện xấu sẽ xảy ra).

3.  Phê Phán Công Đường là cơ quan siêu việt bất khả xâm phạm.

4.  Nhân sự trong Phê Phán Công Đường từ các cá nhân sinh hoạt chính trị trực tiếp ở các cấp đề cử lên vào cơ quan này với số người từ 300 đến 500 người (con số này có thể thay đổi tùy theo hoàn cảnh thực tế). Tuổi từ 55 trở lên và 70 trở xuống. Nếu là những người trong dân chúng, không phải là cá nhân sinh hoạt chính trị trực tiếp, thì phải là người có đạo đức cao, do Trung Tâm Hội Nghị cùng với Kê Sát Viện tuyển chọn và tuổi từ 60 trở lên và 75 tuổi trở xuống trong lúc tại chức.

5.  Số người tuyển vào cơ quan này gồm 1/3 trong tổng số 500 người là những người đã từng nằm trong sinh hoạt cơ cấu chính quyền. 2/3 trong số 500 là những người có đức độ cao, nhận xét cao, đủ kinh nghiệm để làm chuyện phê phán do Trung Tâm Hội Nghị cùng Kê Sát Viện tuyển chọn.

6.  Mỗi nhiệm kỳ là 10 năm và chỉ phục vụ tối đa một nhiệm kỳ.

7.  Mười năm sẽ có một kỳ đại hội. Mỗi ba năm sẽ có một kỳ tiểu hội. Mỗi ba năm sẽ có một hội nghị thường trực.

8.  Đại hội nhiều nhất là một tháng.

9.  Quốc Trưởng phải báo cáo, chịu huấn giới (khuyên bảo) trước kỳ đại hội của Phê Phán Công Đường.

10.      Dân chúng được quyền tự do dự thính trong kỳ đại hội.

11.      Mỗi 30 năm sẽ tổ chức khoáng trương hội nghị trong vòng 3 tháng. Trong kỳ đại hội này, đề nghị tu cải Hiến Pháp khi 4/5 người dự đại hội đồng ý.

12.      Các kỳ hội phải có 2/3 người đến họp mới được bàn thảo công việc.

13.      Quyền hạn của Phê Phán Công Đường:

13.1 Mỗi lần hội nghị xét các án hành chính tố tụng.

13.2 Xét các án hiến pháp tố tụng trong kỳ tiểu hội.

13.3 Bình luận những chính sách của quốc gia, kiểm thảo tình thế, và đưa kiến nghị phương cách làm tốt hơn ở tương lai.

13.4 Đại hội của Trung Tâm Hội Nghị phải xin phép lệnh của Phê Phán Công Đường.

13.5 Bí mật hội nghị khi có những vấn đề quan trọng của quốc phòng, quân sự.

13.6 Quyền đề nghị tu chỉnh Hiến Pháp nhưng không được quyết định tu chỉnh. Đề nghị tu chỉnh Hiến Pháp chỉ được thông qua khi 4/5 người dự hội nghị đồng ý.

13.7 Quyền kiểm thảo các pháp luật đã ban hành để yêu cầu điều chỉnh hoặc loại bỏ.

13.8 Quyền giải thích Hiến Pháp.

13.9 Quyền đàn hạch toàn quốc trên dưới, kết quả ra sao đưa qua Quốc Hội để chấp hành quyết định đó.

13.10 Hỏi các Quốc Trưởng cũ về những chính sách đã thực thi ở quá khứ.

13.11 Các sinh hoạt của Phê Phán Công Đường phải được công khai hóa để người dân có thể nghe, tham dự, trực tiếp học hỏi trong tiến trình hiểu biết phương pháp phê phán, lý luận cho từng vấn đề.

13.12 Khi Phê Phán Công Đường đàn hạch bất cứ cá nhân lãnh đạo trong cơ cấu cầm quyền và đề nghị truất phế thì cơ quan có trách nhiệm phải thực hiện đề nghị này.

13.13 Khi Phê Phán Công Đường đề nghị thay đổi quyết định của một chính sách, một bản án thì các cơ quan có trách nhiệm phải thực hiện trong thời gian 6 tháng (con số này chỉ là đề nghị, thế hệ tương lai phải nghĩ lại con số này hoặc hoại bỏ) nếu có nhu cầu đó. Nếu không có nhu cầu đó thì quyết định của Phê Phán Công Đường sẽ là quyết định cuối cùng.

13.14 Các sự kiện đuổi nhân viên ở các viện sẽ được xét lại để bảo đảm tính chính danh trong việc đuổi người.

   14. Những điều nghiêm cấm Phê Phán Công Đường

           14.1 Nếu thành viên Phê Phán Công Đường tham dự một cuộc thảo luận mà vấn đề thảo luận tạo ra xung đột quyền lợi (conflict of interest) của thành viên thì thành viên đó sẽ không tham dự cuộc thảo luận hoặc quyết định cho một vấn đề nào đó. 

     14.2 Thành viên không được vận động hành lang trong nội bộ cho sự bỏ phiếu bất cứ quyết định nào đó.

Vũ Hoàng Anh Bốn Phương

Tháng 2 năm 2026 (Việt lịch 4905)

Nguồn: https://nganlau.com/2026/11/01/co-nang-hien-phap-tren-nen-tang-duy-dan-chinh-tri-tong-co-p3/

 

Thứ Bảy, 24 tháng 10, 2026

Cơ Năng Hiến Pháp Trên Nền Tảng Duy Dân: Chính Trị Tổng Cơ (P2)

 

b.  Tối Cao Lập Pháp

Tối Cao Lập Pháp được hiểu là Quốc Hội, còn gọi là Trung Tâm Hội Nghị trong Cơ Năng Hiến Pháp. Sự khác biệt giữa Quốc Hội trong Cơ Năng Hiến Pháp với Quốc Hội của các quốc gia trên thế giới là Quốc Hội trong Cơ Năng Hiến Pháp không làm luật mà chỉ duyệt xét luật từ bên Lập Pháp Viện để luật chính thức áp dụng trên toàn quốc do công bố của Quốc Trưởng. Quyền lực của Quốc Hội lẫn quyền lực của Quốc Trưởng đều bị Phê Phán Công Đường và Kê Sát Viện kiểm soát để tránh trình trạng lạm quyền.

1.  Quyền lực của Quốc Hội từ những cá nhân, đoàn thể sinh hoạt xã hội của quốc gia ở các cấp xã, huyện, hạt, tỉnh.

2.  Các cá nhân, đoàn thể sinh hoạt chính trị ở cấp xã, hạt, huyện và tỉnh sẽ đề cử người vào Quốc Hội. Các cá nhân được đề cử phải từng phục vụ trong quân đội nhưng không còn hiện dịch. Những cá nhân được đề nghị phải đạt tiêu chuẩn mà Quan Chính Viện đặt ra những chức vụ quan trọng trong bộ máy điều hành đất nước.

3.  Quốc Hội gồm có 200 đến 300 người. Con số này có thể thay đổi theo thời gian và thế hệ tương lai có thể thay đổi nếu thấy cần. Số người đại diện vào Quốc Hội dựa trên dân số của tỉnh để quyết định bao nhiêu người của tỉnh được vào Quốc Hội. Tỉnh lớn với nhiều người dân sẽ có nhiều người đại diện trong khi tỉnh nhỏ có ít người dân sẽ có ít người đại diện.

4.  Nhiệm kỳ của mỗi nghị viên trong Quốc Hội là 4 năm, tối đa là 3 nhiệm kỳ phục vụ trong Quốc Hội.

5.  Tuổi để được vào Quốc Hội từ 40 trở lên và 60 trở xuống, có đầy đủ tư cách (không bị tiền án) của công dân dành cho những người sinh hoạt ở dạng quốc gia.

6.  Quốc Hội có các quyền sau đây:

6.1      Được bàn thảo những đề án phục vụ phúc lợi xã hội và đưa qua Lập Pháp Viện soạn luật; thông qua luật để đưa qua Quốc Trưởng ký thành luật áp dụng vào xã hội; tuyển quan, bãi quan với sự đồng ý của Quốc Trưởng, ngoại trừ đề nghị từ Kê Sát Viện hoặc Phê Phán Công Đường thì không cần sự đồng ý của Quốc Trưởng; lắng nghe các đoàn thể xã hội bên dưới thảo luận đề lên quyết nghị làm hay không làm.

     6.2 Đưa ra chính sách quốc gia, ngân sách sinh hoạt (với sự hợp tác của Lập Pháp Viện), thông qua các luật (từ bên Lập Pháp Viện soạn), thông qua hiến pháp, hoặc các tính toán khác cần thiết trong việc thiết kế và chấp hành nhân sinh.

6.3 Thông qua quyết định tuyên chiến, đình, hòa, động viên.

6.4 Thụ lý (thực thi) các bản án đàn hạch từ Phê Phán Công Đường.

6.5 Tín nhiệm nay không tín nhiệm Tổng Tư Lệnh, các Viện, Bộ Trưởng.

6.6 Đề cử người bầu tuyển Quốc Trưởng, chọn ra 3 người, do các đoàn thể xã hội toàn quốc ở các cấp, thảo luận từ dưới lên trên, lấy ý kiến tuyển cử từ các đoàn thể xã hội ở dạng quốc gia để chọn ra 3 người ra tranh cử.

6.7 Điều lệ tổ chức, điều hành của Quốc Hội lấy pháp luật mà định, nếu tự chế thì phải có sự đồng ý của Phê Phán Công Đường.

6.8 Họp bàn khi có 3/5 số người dự kiến.

6.9 Điều trần, lắng nghe những đoàn thể trong xã hội khi 3/5 đồng ý trong số họp.

6.10 Quyết định các điều lệ tổ chức, hội nghị của các đoàn thể xã hội sinh hoạt công dân khi những vấn đề ở 6.9 xảy ra.

6.11 Ra quy định thi hành các liên vận (liên lạc và vận động) hay đề cử do các thành phần tham dự chính trị ở các cấp thi hành (điều tra, kiểm thảo …).

6.12 Quyền bí mật hội nghị mà không bị can thiệp bởi hành chính.

6.13 Phát thảo, biểu quyết kế hoạch quốc gia 10 năm một kỳ.

6.14 Tu cải (sử đổi) các phán quyết của Quốc Hội trong quá khứ với sự đồng ý của đoàn thể xã hội ở cấp quốc gia đồng ý.

6.15 Quyền thông qua luật pháp hay tu cải do Lập Pháp Viện đệ lên. 

6.16 Quyền thông qua các sắc luật của Quốc Trưởng để trở thành luật lâu dài.

6.17 Quyền áp đặt thuế (từ đề nghị bên Nghiên Cứu Viện), các phúc lợi của người dân và xã hội.

6.18 Quyền trưng cầu dân ý khi có những vấn đề cần sự góp ý của Quốc Dân.

6.19 Quyền thông qua hiệp ước thương mại do Quốc Trưởng đề nghị.

7.  Những điều Quốc Hội không được làm:

7.1      Không được quyền thay đổi Hiến Pháp, nhưng có thể đề nghị thay đổi Hiến Pháp trước các hội đoàn trong xã hội, từ trên xuống dưới mà các tổ chức xã hội cấp xã làm ý kiến chuẩn.

7.2 Không được phục vụ trong ngành hành chính.

7.3 Không được chủ trương trong kinh tế nghiệp đoàn. (Ý định chuyển công việc của quốc gia vào các kinh tế tập đoàn mà cá nhân trong Quốc Hội đã làm việc trong quá khứ)

7.4 Không được quyền mướn những cơ sở thương mại cho sinh hoạt của quốc gia mà những cơ sở thương mại đó dính dáng đến gia đình, họ hàng, bạn bè.

Vũ Hoàng Anh Bốn Phương

Tháng 2 năm 2026 (Việt lịch 4905)

Nguồn: https://nganlau.com/2026/10/24/co-nang-hien-phap-tren-nen-tang-duy-dan-chinh-tri-tong-co-p2/

 

 

Thứ Năm, 15 tháng 10, 2026

Cơ Năng Hiến Pháp Trên Nền Tảng Duy Dân: Chính Trị Tổng Cơ (P1)

 

A. Chính Trị Tổng Cơ

Người Việt xem chính trị là một cái gì đó ghê tởm bởi quá khứ đã chứng minh chính trị là để tranh giành quyền lực. Lý Đông A nhìn vấn đề chính trị ở dạng con người cho nên ông cho rằng “chính trị là thiết kế và chấp hành nhân sinh”. Đây chính là bản chất thật của chính trị dưới góc nhìn của Duy Dân.

a.  Tối Cao Quốc Thể

Đây là cơ quan có quyền hành như là một vị Tổng Thống, Thủ Tướng của các quốc gia dân chủ trên thế giới. Tuy nhiên, Lý Đông A đề nghị một chế độ không phải là Tổng Thống chế mà là Quốc Trưởng.

1.  Khuôn mặt đại diện cho Tối Cao Quốc Thể chính là vị Quốc Trưởng. Quốc Trưởng được cơ quan Tối Cao Lập Pháp (Quốc Hội) đề nghị theo đa số phiếu và người dân bỏ phiếu để chọn ra một vị Quốc Trưởng.

2.  Nhiệm kỳ của Quốc Trưởng là 9 năm cho một nhiệm kỳ. Nếu chọn lựa 5 năm cho một nhiệm kỳ thì tối đa là hai nhiệm kỳ. Có nghĩa là Quốc Trưởng chỉ phục vụ tối đa là 9 (một nhiệm kỳ) hoặc 10 năm (hai nhiệm kỳ). Thời chiến tranh Quốc Trưởng có thể tại nhiệm lâu hơn. Phần này người viết đề nghị hai nhiệm kỳ, mỗi nhiệm kỳ tối đa là 5 năm. {Tài liệu Cơ Năng Hiến Pháp, Lý Đông A đề nghị hai nhiệm kỳ, mỗi nhiệm kỳ 9 năm (sẽ tạo trở ngại về số tuổi ở phần bên dưới số 3)}

3.  Tuổi của vị Quốc Trưởng phải từ 50 được đề cử và nhậm chức đến 65 tuổi thì chấm dứt. Có nghĩa là dưới 50 và trên 65 không được giữ chức vụ Quốc Trưởng.

4.  Quốc Trưởng đại diện cho quốc gia để lo về đối nội và đối ngoại. Quốc Trưởng được quyền ký các hiệp ước thương mại với nước ngoài nhưng hiệp ước chỉ có giá trị qua sự chấp nhận của Quốc Hội.

5.  Trách nhiệm của vị Quốc Trưởng gồm có:

5.1      Chịu trách nhiệm trước Trung Tâm Hội Nghị (Quốc Hội).

5.2 Nắm giữ quân đội trong việc bảo vệ lãnh thổ. Tổng lý các chức quyền trong quân đội, không được kinh doanh kinh tài trên mọi hình thức (buôn bán, sản xuất, hay mua chứng khoán).

5.3 Được quyền phản bác (Veto Power) các bộ luật của Quốc Hội 3 lần trong năm.

5.4 Được miễn truy tố trong nhiệm kỳ, ngoại trừ tội phản quốc. (Đề nghị này ghi lại theo đúng tài liệu. Tuy nhiên thế hệ tương lai cần phải xét lại đề nghị này bởi không có lý do chính đáng nào, Quốc Trưởng miễn truy tố khi đã vi phạm luật, đừng nói đến chuyện phản quốc. Người viết cho rằng đề nghị này cần phải xóa bỏ bởi tạo ra hình ảnh luật dành cho quan chức khác với thường dân)

5.5 Phải chịu trách nhiệm chỉ trích, phê bình, đàn hạch của Phê Phán Viện trước Trung Tâm Hội Nghị (Quốc Hội).

5.6 Phải chịu trách nhiệm chỉ trích, phê bình, đàn hạch do Kê Sát Viện về bản thân Quốc Trưởng.

5.7 Quyền ban hành giới nghiêm khi có sự đồng ý của Quốc Hội.

5.8 Quyền tuyên chiến, hòa, đình khi được sự đồng ý của Quốc Hội.

5.9 Quyền ân xá (xóa tội), đặc xá (giảm tội án), hay chung quyết (phán quyết cuối cùng) các án từ Tư Pháp Viện hay Kê Sát Viện. Các quyền này cần phối hợp với Phê Phán Công Đường để có phán quyết chung có lợi cho toàn thể. Người viết đề nghị loại bỏ quyền này để bảo đảm sự công bằng cho nạn nhân.

5.10 Quyền tuyển bổ các chức vụ lãnh đạo các cấp cơ quan trong Xu Mật Viện; ngoại trừ chức vụ Tổng Lãm và các vị lãnh đạo ở 6 viện trong Hành Chính Tổng Cơ, Quốc Trưởng chỉ được đề nghị tuyển chọn với sự đồng ý của Quốc Hội.

5.11 Quyền triệu tập Trung Tâm Hội Nghị (Quốc Hội) thường kỳ hay lâm thời khi an ninh quốc gia bị nguy hại.

5.12 Quyền đề nghị chính sách, ngân sách với Quốc Hội. Ngân sách quốc gia do Lập  Pháp Viện soạn thảo để trình lên Quốc Trưởng và được Quốc Hội chấp thuận trước khi trở thành luật do Quốc Trưởng ký.

5.13 Quyền ban tặng huy chương cho các cá nhân trong chính quyền, quân đội và thường dân.

5.14 Có những quyền hạn khác do quy định của Quốc Hội.

5.15 Quốc Trưởng đề cử người trong Xu Mật Viện để phụ giúp Tổng Lãm (người đầu lãnh đạo đầu đàn của Xu Mật Viện). Xu Mật Viện trực tiếp phụ giúp Quốc Trưởng trong việc điều hành quốc gia.

5.16 Quốc Trưởng công bố các luật pháp từ bên Lập Pháp Viện sau khi Trung Tâm Hội Nghị (Quốc Hội) thông qua luật đồng thời công bố sắc lệnh (executive order) trong việc điều hành quốc gia. Sắc lệnh của Quốc Trưởng chỉ có giá trị hai năm tạm thời và phải được Quốc Hội thông qua để biến sắc lệnh thành luật. Pháp lệnh của Quốc Trưởng là vì nhu cầu của quốc gia chứ không phải vì muốn thực hiện lời hứa với thiểu số nào đó trong xã hội.

5.17 Quốc Trưởng được quyền trưng cầu dân ý khi đối diện trước một sự kiện cần sự góp ý của Quốc Dân.

5.18 Quốc Trưởng được quyền đề nghị lãnh đạo của 6 viện (Hành Chính Tổng Cơ) với sự đồng ý của Trung Tâm Hội Nghị (Quốc Hội) và sự đề nghị này dựa vào khả năng, đạo đức, kinh nghiệm chứ không phải dựa vào đảng tính.

6.  Những điều nghiêm cấm Quốc Trưởng

6.1 Không được từ chức trong nhiệm kỳ ngoại trừ bị chết, bị bệnh. Khi vắng mặt sẽ do Hành Chính Viện Trưởng tạm thay thế 6 tháng.

6.2 Không được giải tán Trung Tâm Hội Nghị (Quốc Hội).

6.3 Nếu quyền (5.9) được ân xá, đặc xá được chấp nhận trong Cơ Năng Hiến Pháp thì Quốc Trưởng không được quyền ân xá, đặc xá những người trong gia tộc; những cá nhân chưa bị kết án; những tội mang tính đảo chính, lật đổ chính quyền dân cử; những nhân viên phục vụ bộ máy chính quyền; những tội phạm buôn bán ma túy, cần sa; những tội phạm dẫn dắt ấu dâm, buôn người, hiếp dâm, giết người. Không được quyền xóa án của tội phạm.

6.4 Không được quyền sa thải các chức vụ đã được Quốc Hội thông qua hoặc các chức vụ nằm trong các viện, ngoại trừ trường hợp Kê Sát Viện, Quan Chính Viện đề nghị sa thải.

6.5 Không được quyền ký những sắc lệnh đi ngược lại Nhân Bản Cương Thường, Hiến Pháp.

6.6 Không được quyền đóng cửa bộ máy điều hành quốc gia.

6.6 Không được quyền thuê mướn những cở sở thương mại cho sinh hoạt điều hành quốc gia mà những cơ sở thương mại đó là của người thân, họ hàng, hoặc bạn bè.

6.7 Không được quyền đề nghị người thân vào chức vụ lãnh đạo, góp ý trong cơ cấu điều hành quốc gia dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Quốc Trưởng.

6.8 Không được quyền chuyển ngân sách đã được quy định cho mục tiêu (cơ quan) nào đó qua một mục tiêu khác (cơ quan).

6.9 Không được quyền trao tặng huy chương cho người thân trong gia đình, bạn bè.

Vũ Hoàng Anh Bốn Phương

Tháng 2 năm 2026 (Việt lịch 4905)

Nguồn: https://nganlau.com/2026/10/15/co-nang-hien-phap-tren-nen-tang-duy-dan-chinh-tri-tong-co-p1/

 

 

Thứ Tư, 7 tháng 10, 2026

Cơ Năng Hiến Pháp Trên Nền Tảng Duy Dân: Duy Nhân Cương Thường (P1)

 


AA.  Duy Nhân Cương Thường

Sinh hoạt của bất cứ xã hội nào đều có cương thường của xã hội đó. Sinh hoạt của một cơ cấu chính quyền cũng phải đặt ra cái cương thường của loài người sống trong xã hội đó. Đây chính là cái cương thường mà người lãnh đạo quốc gia, người sống trong quốc gia đó phải dựa vào để thực hiện thiết kế và chấp hành nhân sinh.

Cơ năng hiến pháp phải được đặt trên nền tảng cương thường của loài người. Cương thường của loài người là những điều căn bản mà đã là con người đều cần phải có trong cuộc sống của Người -- không kể màu da, sắc tộc, chủng tộc. Thế giới có nhiều sắc tộc khác nhau, nhiều quốc gia khác nhau, nhiều phong tục khác nhau nhưng thế giới của Người chỉ có một cương thường duy nhất mà Lý Đông A gọi là Duy Nhân Cương Thường, cái nền tảng mà những người lãnh đạo quốc gia cần phải bảo đảm cho những người sống trong và ngoài quốc gia bởi đó là đường sống của Người.

a.  a.  Nhu cầu nhu yếu

Con người từ thời ăn lông ở lổ đến thời đại hiện tại đều có những nhu yếu giống nhau. Chính vì những nhu yếu đó mà bắt buộc con người phải sống trong xã hội để cùng nhau tiến-hóa, phát triển giống nòi cho đến hôm nay. Nhu cầu nhu yếu gồm có ăn, mặc, chỗ ở, gia đình để phát triển giống nòi, môi trường lành mạnh, giáo dục, và y tế.

Để được sống còn, con người có nhu cầu ăn uống. Ngày xưa khi xã hội chưa hình thành, khi con người vẫn ăn lông ở lổ thì ăn sống. Khi con người phát hiện ra lửa thì ăn sống được chuyển sang ăn chín. Ngày hôm nay cái ăn không đơn thuần là để nuôi cơ thể mà thực phẩm có chất gì trong đó; liệu thực phẩm làm ảnh hưởng đến khí hậu, môi trường, và thân thể của người ăn hay không?

Hình ảnh môi trường biển bị ô nhiễm qua vụ Formosa nhưng quan chức, nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam xem thường và khuyến khích người dân tiếp tục ăn đồ biển mà không cần biết nguy hại đến cơ thể ra sao thì đây là hành động, chính sách đi ngược lại Duy Nhân Cương Thường.

Ngoài cái ăn con người cần cái mặc, chỗ ở để nghỉ ngơi, ẩn trú nắng mưa. Hình ảnh người dân sống đầu đường xó chợ, hình ảnh nhà cầm quyền làm áp lực với chủ nhà để không cho những nhà bất đồng chính kiến mướn chỗ ở chính là hành động đi ngược lại Duy Nhân Cương Thường.

Sự tồn tại loài người từ xa xưa đến hôm nay nhờ sự hình thành gia đình với sự phối hợp đời sống Nam-Nữ để phát triển giống nòi. Đời sống gia đình phải đi kèm theo trách nhiệm cho nên chuyện “trai năm thê bảy thiếp” không thể chấp nhận với thế kỷ 21. Sự lựa chọn “năm thê bảy thiếp” là quyền của cá nhân nhưng trên lãnh vực giấy hôn phối thì không thể nào chấp nhận. Những ai nằm trong vị trí lãnh đạo quốc gia cần phải có nhân phẩm cao trong việc tôn trọng đời sống gia đình chứ không thể nào như các vị chính trị gia ở Hoa Kỳ, xem thường phụ nữ và ăn nằm với nhiều phụ nữ khác trong khi có vợ mà vẫn được nắm vị trí lãnh đạo quốc gia thì đã vi phạm Duy Nhân Cương Thường.

Thế giới đang đối diện với biến đổi khí hậu. Môi trường sống không còn là vấn đề của một quốc gia mà là của toàn thế giới. Con người không thể nào tồn tại trong một môi trường đang bị phá hoại trên nhiều lãnh vực từ khí hậu, nước uống, đến môi trường sinh sống của con người. Không thể nào vì quyền lợi kinh tế của một công ty, hay một quốc gia để đem sản xuất đến một quốc gia khác nhằm hủy diệt môi trường nơi quốc gia không có khả năng và luật để bảo vệ môi trường. Bất cứ công ty nào, bất cứ quốc gia nào vì quyền lợi của mình để làm ô nhiễm môi trường ở những quốc gia khác tức là đã vi phạm Duy Nhân Cương Thường.

Giáo dục và y tế là nhu yếu của con người ở thế kỷ 21 này. Không thể nào chấp nhận một quốc gia có nền khoa học kỹ thuật về y khoa rất cao nhưng chỉ dành cho những người có tiền mà Hoa Kỳ là thí dụ điển hình.

Không thể nào chấp nhận một công ty gia tăng thuốc từ 13.75 lên đến 750 đô (5000%) mà Quốc Hội không làm được gì cho hành động cướp tài sản tiền bạc của người khác, chưa kể người không có khả năng mua thuốc có thể bị thiệt mạng.

Không thể nào chấp nhận một nền giáo dục khuyến khích tự do nhưng không kèm theo trách nhiệm của cá nhân đối với xã hội mình đang sống. Một xã hội mà nền giáo dục hoặc hệ thống y tế tốt chỉ dành cho người có tiền thì người lãnh đạo quốc gia đã đi ngược lại Duy Nhân Cương Thường.

Cơ Năng Hiến Pháp Trên Nền Tảng Duy Dân: Duy Nhân Cương Thường (P2)

Vũ Hoàng Anh Bốn Phương

Tháng 2 năm 2026 (Việt lịch 4905)

Nguồn: https://nganlau.com/2026/10/07/co-nang-hien-phap-tren-nen-tang-duy-dan-duy-nhan-cuong-thuong-p1/

 

 

Cơ Năng Hiến Pháp Trên Nền Tảng Duy Dân: Duy Nhân Cương Thường (P2)

 

b.  b. Nhu cầu tự chủ

Thuở xa xưa khi chưa có chính quyền, con người tự làm chủ lấy sinh mệnh của chính mình. Nơi nào không còn thức ăn, con người dời đi nơi khác để tìm thức ăn. Để có thể săn bắt một con thú mạnh hơn mình, hoặc không để thức ăn dư thừa hư thối, họ cùng nhau hợp tác để săn bắt con thú, chia xẻ từng miếng thịt vừa được săn. Cái tinh thần tự chủ để hợp tác, để chia sẻ, để cùng nhau sống còn, tiến hóa đã có từ khi con người nhìn ra sự sống còn của con người phải dựa vào nhau (xã hội) để hợp tác, xây dựng cuộc sống tốt hơn, bền vững hơn cho tất cả mọi người trong xã hội. Đó là đường sống của Người trong một tinh thần tự chủ, hợp tác, nâng cao cuộc sống cho mọi người chứ không phải là cuộc sống mạnh được yếu thua của loài cầm thú.

Cho nên chính quyền phải bảo đảm quyền tự chủ của con người trong xã hội gồm có quyền tự do đi lại, tự do hội họp, tự do biểu tình và đình công, tự do truyền thông, tự do tôn giáo, tự do thành lập các tổ chức xã hội dân sự, các tổ chức nghề nghiệp, tự do kinh doanh, tự do ngôn luận, và các quyền tự do khác trong cuộc sống của con người.

Để thực hiện tinh thần tự chủ, các cá nhân sống trong xã hội phải có đầy đủ những quyền tự do căn bản này trong một tinh thần sống hòa đồng với tập thể. Khi sống trong tập thể thì quyền tự do ngôn luận phải ở trong một tinh thần trách nhiệm, không chuyển tải tin tức giả dối, không khuyến khích bạo động mà hình ảnh ông Trump trong buổi vận động tranh cử năm 2016 kêu gọi người ủng hộ mình đánh người không ủng hộ mình và ông Trump sẽ trả tiền pháp lý thì đây là tự do ngôn luận mang tính cách bạo động, xúi giục người khác làm hại đến cá nhân có quan điểm khác mình. Hình ảnh ông Trump kêu gọi người ủng hộ mình đến căn nhà Quốc Hội gây bạo động ngày 6 tháng 1 năm 2021 là hình ảnh tự do ngôn luận thiếu trách nhiệm hay còn gọi là lạm dụng quyền tự do ngôn luận.

Quyền tự do kinh doanh cũng phải quan tâm đến môi sinh, lợi hại việc kinh doanh ảnh hưởng đến đời sống của xã hội. Mục đích chính của kinh doanh là phục vụ hoặc đáp ứng nhu cầu của xã hội để từ đó cá nhân kinh doanh nhận lại phần thưởng tài vật hầu bảo đảm kinh tế trong cuộc sống. Mục đích kinh doanh là để làm giàu thì con người có thể sử dụng mọi thủ đoạn, mọi hình thức để làm giàu cho bản thân mà không quan tâm đến xã hội. Cũng là kinh doanh nhưng mang hai mục đích khác nhau để kết quả -- thay vì giúp xã hội thì đi đến hủy diệt xã hội.

Hình ảnh cô Elizabeth Holmes, một người phụ nữ trẻ trở thành tỷ phú vì tham vọng làm giàu để cuối cùng cô thành lập một công ty Theranos, bán sản phẩm thử nghiệm máu mà sản phẩm đó không hề có giá trị thực sự. Vì tham vọng giàu, cô đã lừa gạt kêu gọi người khác bỏ vốn vào công ty và những người trong chính quyền (FDA) để được chấp nhận sản phẩm tung ra thị trường làm tăng giá trị của công ty nhằm mục đích để được làm giàu nhanh, lẹ. Theo đánh giá của Forbes năm 2015 thì trị giá tài sản cô này là 4.5 tỷ vì cô có một nửa phần hùn trong công ty Theranos mà cô thành lập. Công ty này vào thời điểm đó có giá trị 9 tỷ. Tuy nhiên tất cả trở thành con số không khi mà giới báo phanh phui ra vụ lừa gạt của cô Holmes trong năm 2018 và cuối cùng công ty của cô sập tiệm, cô ta bị đi tù.

Tinh thần tự chủ để mỗi cá nhân, mỗi đoàn thể trong xã hội tự chính mình tạo ra nguồn kinh tế cho mình và từ đó có thể giúp những người khác yếu kém hơn. Các tổ chức thiện nguyện ở các quốc gia tiến bộ mục đích để phục vụ, giúp đỡ những người yếu kém trong xã hội, tạo bớt gánh nặng cho cơ cấu của chính phủ. Cho nên quyền căn bản của mỗi con người trong xã hội phải được bộ máy chính quyền bảo đảm, không được vi phạm những quyền tự do căn bản này.

Ngoài ra con người sống trong xã hội cần sự bảo đảm về mặt kinh tế lẫn an ninh. Khi thiên tai (bão, dịch) đến ngoài ý muốn của con người, bộ máy nhà nước phải có sự chuẩn bị để giúp đỡ những người bị thiên tai, đóng cửa vì dịch về mặt tài chính, kinh tế để người bị thiên tai có thể vươn lên trở lại đời sống tự chủ của chính mình. Khi xã hội xuất hiện những hiện tượng xấu như băng đảng, cướp giựt; bộ máy chính quyền phải trực tiếp chống lại những hiện tượng xấu để bảo đảm an ninh cho những người sống trong xã hội.

Quyền tự chủ bao gồm quyền được quyết định cho hướng đi của quốc gia qua những điều kiện được đặt ra để mỗi người dân có khả năng, nhân cách, nhân phẩm tham dự vào bộ máy chính trị của quốc gia với mục đích không phải để cầm quyền mà để thiết kế và chấp hành nhân sinh cho phù hợp với Duy Nhân Cương Thường.

Bất cứ bộ máy chính quyền nào không bảo đảm những quyền tự chủ của người dân tức là đã vi phạm Duy Nhân Cương Thường. Tuy nhiên mỗi cá nhân trong xã hội, để được bảo đảm quyền tự chủ này thì cần phải thực hiện trong một tinh thần trách nhiệm để quyền lợi cá nhân không làm ảnh hưởng đến quyền lợi của tập thể (xã hội) mà một vài thí dụ đã dẫn chứng bên trên.

c.  c. Nhu cầu tinh thần

Con người không chỉ có nhu cầu nhu yếu, nhu cầu tự chủ mà cần phải có nhu cầu tinh thần. Nhờ có nhu yếu, nhờ có tự chủ để tạo ra văn hóa nhằm mục đích phục vụ mặt tinh thần của những người sống trong xã hội.

Tâm (tinh thần) và Thân (nhu yếu) phải cân bằng để duy trì cương thường (trật tự) cho bản thân. Khi cá nhân không bị de dọa bởi tinh thần hay vật chất thì mới có tự chủ. Hay ngược lại nếu cá nhân hiểu giá trị của tự chủ thì phải duy trì cương thường (trật tự) cho tâm và thân. Khi mỗi cá nhân có tự chủ thì hiến pháp dân chủ trong xã hội mới thành hình.

Cuộc sống luôn luôn là sức ép tạo ra nhiều khủng hoảng tâm-sinh-lý của con người, cho nên những truyền thống văn hóa giúp mọi người giải tỏa những bức xúc trong lòng, giúp mọi người có dịp nhìn lại chính mình qua những tác phẩm văn hóa mang tính nghệ thuật vị nhân sinh, phục vụ quần chúng.

Văn hóa không thể nào là loại văn hóa tuyên truyền mà đảng cộng sản VN đang thực hiện mà là văn hóa độc lập, mang mục đích phục vụ đời sống của người, trong một tinh thần trách nhiệm của người làm văn hóa với xã hội để tạo xã hội càng thăng tiến trong hướng thượng, nhân bản.

Văn hóa không thể nào là loại văn hóa vì tiền, vì thị hiếu của quần chúng mà không quan tâm đến tác hại của văn hóa đối với thế hệ tương lai.

Trong các tài liệu của Lý Đông A không có một tài liệu nào chuyên đề nói về Duy Nhân Cương Thường. Nhà xuất bản Gió Đáy dựa vào nhiều tài liệu của Lý Đông A để có bản tài liệu lấy tên là Duy Nhân Cương Thường. Qua những tài liệu đã được ghi lại gồm cả tài liệu Duy Nhân Cương Thường của nhà xuất bản Gió Đáy, người viết diễn dịch Duy Nhân Cương Thường dựa theo tinh thần gốc trên chủ thuyết Duy Dân của Lý Đông A. Nếu sự diễn giải vẫn còn thiếu thì người đọc, hoặc thế hệ sau đó, có thể thêm (bớt) nếu thấy cần thiết cho phù hợp với thực tế. Đây cũng chính là cái hay của thuyết Duy Dân là thuyết mở, không đóng khuôn để thay đổi cho phù hợp với thực tế của xã hội.

Những cương thường bên trên là mục đích mà các cơ cấu trong chính quyền Duy Dân phải dựa vào đó tạo những chính sách, luật lệ phù hợp với Duy Nhân Cương Thường để phục vụ đời sống Người.

Vũ Hoàng Anh Bốn Phương

Tháng 2 năm 2026 (Việt lịch 4905)

Nguồn: https://nganlau.com/2026/10/07/co-nang-hien-phap-tren-nen-tang-duy-dan-duy-nhan-cuong-thuong-p2/

 

 

Chủ Nhật, 4 tháng 10, 2026

Cơ Năng Hiến Pháp Trên Nền Tảng Duy Dân: Lời Giới Thiệu

Loạt bài Cơ Năng Hiến Pháp Một Góc Nhìn đã được viết vào năm 2021. Người viết dựa vào bản năm 2021 để điều chỉnh và sửa đổi cho phù hợp với thực tế và chỉ nhắm vào phần chính của hệ thống cơ cấu chính quyền chứ không đi sâu vào phần giải thích tại sao Cơ Năng Hiến Pháp đáp ứng nhu cầu của thời đại. Ai muốn xem phần phân tích cho vấn đề này, xin xem lại bài viết của năm 2021.

Nội dung chính của bài viết dựa vào tài liệu được ghi lại của Lý Đông A gồm Duy Dân Cơ Năng, Duy Dân Cơ Năng Tốc Giảng, và Duy Nhân Cương Thường. Dựa vào tình hình thực tế của xã hội Mỹ năm 2026, Cơ Năng Hiến Pháp ghi lại những điều Lý Đông A đề nghị; người viết đề nghị một số điều mà nhu cầu thời đại phải đưa vào Cơ Năng Hiến Pháp với mục đích kiện toàn Cơ Năng Hiếp Pháp.

Cơ Năng Hiến Pháp Cơ Cấu

A.  Duy Nhân Cương Thường

a.  Nhu Cầu Nhu Yếu

b.  Nhu Cầu Tự Chủ

c.   Nhu Cầu Tinh Thần

B.  Chính Trị Tổng Cơ

a.  Tối Cao Quốc Thể

b.  Tối Cao Lập Pháp

c.   Phê Phán Công Đường

C.  Hành Chính Tổng Cơ

a.  Nghiên Cứu Bộ Phận

1.  Nghiên Cứu Viện

2.  Lập Pháp Viện

b.  Chấp Hành Bộ Phận

1.  Hành Chính Viện

2.  Quan Chính Viện

c.   Khảo Hạch Bộ Phận

1.  Tư Pháp Viện

2.  Kê Sát Viện

D. Hành Chính Phụ Cơ

a.  Khu Vực

b.  Tỉnh Trị

c.   Huyện Trị

d.  Hạt Trị

e.  Xã Trị

E.  Chính Trị Nguyên Cơ

Tất cả nền tảng, cơ cấu của Cơ Năng Hiến Pháp bên trên sẽ lần lượt trình bày trong thời gian tới.

Vũ Hoàng Anh Bốn Phương

Tháng 2 năm 2026 (Việt lịch 4905)

Nguồn: https://nganlau.com/2026/10/01/co-nang-hien-phap-tren-nen-tang-duy-dan-loi-gioi-thieu/

 

 

 

Cơ Năng Hiến Pháp Trên Nền Tảng Duy Dân: Chính Trị Tổng Cơ (P3)

  c.   Phê Phán Công Đường Dưới cơ chế Duy Dân, người dân có một bộ phận riêng biệt để kiểm soát những cơ cấu trong chính quyền nhằm điều ...