Chủ Nhật, 27 tháng 3, 2022

Tu Dưỡng Thắng Nhân: Im Lặng

 

Im lặng là một sự cần thiết trong cuộc sống của bản thân. Sự im lặng đôi khi được người khác hiểu lầm đó là hành động thiếu lịch sự. Thí dụ ai đó đặt câu hỏi với tác giả và tác giả im lặng không trả lời thì người đặt câu hỏi lẫn người bên ngoài nghĩ rằng đó là hành động thiếu tế nhị (hay xem thường) của tác giả.

Thực tế nếu nhìn vấn đề ở khía cạnh tích cực thì sự im lặng này không phải là thiếu lịch sự mà là sự tự trọng của tác giả cho chính mình và cho người đặt câu hỏi. Hãy cùng nhau tìm hiểu rõ tại sao đây là sự tự trọng cần thiết cho mọi người.

Khi cá nhân nói một điều gì đó trước công chúng thì có ba trường hợp xảy ra.

Trường hợp thứ nhất là người nghe có cùng một kinh nghiệm, một quan tâm, một ý nghĩ với người nói. Ở trường hợp này thì người nghe ít khi đặt câu hỏi. Và nếu người nghe đặt câu hỏi thì phương cách câu hỏi ở một vị thế mà người nói sẽ tiếp tục trao đổi để làm sáng tỏ vấn đề. Đây là trường hợp cùng nhau học hỏi, cho nên người nói cảm nhận được sự quan tâm của người nghe và không giữ thái độ im lặng, trái lại sẵn sàng trao đổi thêm để làm sáng tỏ vấn đề cho cả hai học hỏi.

Trường hợp thứ hai là người nghe đặt câu hỏi mà người nói thấy rằng cần phải giữ sự im lặng bởi qua câu hỏi, người nói cảm nhận được sự hiểu biết của người đặt câu hỏi ở vị trí nào, cho nên không thể nào tiếp tục trao đổi với người đặt câu hỏi. Ở trường hợp thứ 2 thì có hai cách để nhìn vấn đề. (1) Người nghe đặt câu hỏi và người nói thấy rằng câu hỏi đó nằm ngoài sự hiểu biết của mình – mà nếu nằm ngoài sự hiểu biết của mình thì tốt nhất là im lặng bởi ca dao tục ngữ có câu “biết thì thưa thốt, không biết dựa cột mà nghe”. Hoặc nếu người nói tế nhị một tí sẽ lên tiếng là câu hỏi đó nằm ngoài khả năng hiểu biết của mình để chấm dứt cuộc thảo luận. Cũng có thể người đặt câu hỏi với mục đích phá đám chứ không phải là để tìm hiểu, trao đổi. Cho nên người nói chọn thái độ im lặng để tạo sự tự trọng cho chính mình và người khác. (2) Người nghe đặt câu hỏi mà người nói thấy được kinh nghiệm của người nghe chưa đủ để hiểu vấn đề của người nói đặt ra. Giống như một người không quan tâm về tư tưởng, con người, hay xã hội mà đặt câu hỏi về những vấn đề này với người nói -- thì người nói dù có giải thích bao nhiêu lần, người hỏi sẽ không bao giờ hiểu được bởi không có sự quan tâm về những vấn đề trên, hoặc sự quan tâm quá ít để hiểu rõ vấn đề ở dạng tổng thể. Cho nên thái độ im lặng là thái độ cần thiết.

Trường hợp thứ ba là người đặt câu hỏi đã có câu trả lời cho chính câu hỏi đó. Mà nếu người đặt câu hỏi đã có câu trả lời thì sự trao đổi cũng sẽ chẳng đi đến đâu, cho nên thái độ im lặng ở trường hợp này là cần thiết để sự tự trọng được xảy ra cho cả hai người (người nói và người hỏi). Hoặc người nói đưa ra vấn đề A nhưng người đặt câu hỏi nhắm vào vấn đề B. Vậy thì thái độ im lặng ở trường hợp này rất cần thiết.

Im lặng là việc làm không phải dễ, đặc biệt là trên mạng xã hội, với nhiều ý kiến, nhiều kinh nghiệm cuộc sống khác biệt nhau để tạo ra cuộc tranh cãi vô bổ cho những đề tài không cần phí phạm thời gian để tranh cãi -- bởi người tranh cãi hoàn toàn không có kinh nghiệm, hiểu biết cho những đề tài mà họ tham gia tranh cãi. Phải biết khi nào chọn thái độ im lặng và khi nào cần phải lên tiếng cho dù tiếng nói đó đi ngược lại số đông của quần chúng.

Thí dụ Trump được chọn là vị tổng thống thứ 45 của Mỹ nhưng sự chọn lựa đó cho thấy số đông cử tri đoàn đã lựa chọn sai người để dưới thời đại của Trump, nền dân chủ của Hoa Kỳ xuống dốc cuối cùng tạo ra sự kiện đảo chính hụt xảy ra tại căn nhà Quốc Hội ngày 6 tháng 1 năm 2021. Thái độ của những người Việt chống Trump, con số này xem ra ít hơn số người Việt (trong và ngoài nước VN) ủng hộ Trump cho thấy số đông chưa chắc đã là đúng.

Muốn đạt được kỹ năng im lặng thì tâm cần phải lắng đọng để lắng nghe từng câu nói của cá nhân, quan sát lời nói của cá nhân đó có thực sự đi đôi với việc làm hay không -- khi có điều kiện trực tiếp làm việc với cá nhân đó. Nếu cá nhân đó nói và làm là hai việc khác nhau thì cần giữ thái độ im lặng trong trao đổi với cá nhân đó -- bởi đơn giản cá nhân đó xài bạc giả (nói và làm hoàn toàn khác nhau). Tâm cần lắng đọng để đọc từng câu, từng chữ của người cho ý kiến trên mạng xã hội để phán xét cá nhân đó thuộc hạng người nào -- hầu chọn thái độ im lặng, không cho ý kiến, không lên tiếng nhằm mục đích tôn trọng ở chính bản thân mình và tôn trọng cá nhân đó. Tâm cần lắng đọng để nhìn được trọng tâm của vấn đề mà người viết đưa lên mạng xã hội để phân biệt giả-thật, ngụy biện-lý luận hầu có thái độ ứng xử cho phù hợp bằng thái độ im lặng hoặc lên tiếng. Và khi lên tiếng cũng phải biết khi nào cần im lặng. Bạn không thể nào tiếp tục tranh cãi với người không hề biết tranh cãi. Chuyện này xảy ra trên mạng xã hội rất nhiều bởi ai cũng nghĩ mình biết tranh cãi.

Chúng ta đang sống ở thời đại mạng xã hội. Nếu vì lý do nào đó mà bạn chọn tham gia mạng xã hội thì càng cố gắng tu dưỡng ở bản thân để biết khi nào cần im lặng. Đây là cách ứng xử tốt nhất để ít nhất mình tự tôn trọng lấy mình và kế đến là tôn trọng người khác chính kiến với mình.

Vũ Hoàng Anh Bốn Phương

Tháng 12 năm 2021 (Việt lịch 4900)

Nguồn: https://nganlau.com/2022/03/24/tu-duong-thang-nhan-im-lang/

 

 

 

Thật là khó hiểu Lý Đông A

 

Kỷ niệm 100 năm sự xuất hiện của nhân tài nước Việt: Lý Đông A với tư tưởng Duy Dân cho dân tộc Việt vào thời đại 2000s. Thời đại 2000s đã tới nhưng có mấy ai hiểu tư tưởng họ Lý?

Đa số cho rằng Lý Đông A đã viết quá ngắn, gọn với ngôn ngữ khó hiểu nên trải qua bao nhiêu năm những người theo đuổi Duy Dân vẫn chỉ là "tôn thờ" tài liệu mà không thể đem vào hành động.

Tại sao vậy?

Vẫn biết rằng Lý Đông A sáng tạo nền tảng tư tưởng Duy Dân trong một thời gian rất ngắn trong lúc vẫn phải đối phó với thời cuộc đang thay đổi nhanh chóng. Nhất là sự phát triển của cộng sản tại VN đang tìm cách tiêu diệt các lực lượng dân tộc để nắm độc quyền lãnh đạo trong cuộc kháng chiến chống Pháp.

Là một thiên tài, tất nhiên Lý Đông A biết thời cơ không đến cho các lực lượng dân tộc vì thế ông đã viết và để lại tài liệu cho hậu thế,  sau đó giải tán đảng. Một trong những lý do tại sao ông lập đảng, rồi trong một thời gian ngắn lại giải tán đảng, là muốn tìm người tin cậy để lưu truyền tư tưởng Duy Dân.

Tài liệu được lưu truyền và phổ biến tại hải ngoại nhưng liệu có giá trị thực hiện hay không?

Là tư tưởng cách mạng, Duy Dân phải được thực hiện để chứng tỏ giá trị thực tế qua hành động. Nhưng đa số những người theo đuổi, tìm hiểu tư tưởng của Lý Đông A chỉ là nhai lại những gì ông đã nói qua tài liệu mà không tiêu hóa để có thể đi vào hành động. Vậy thì khúc mắc ở đâu?

Con người

Trong tài liệu để lại, Lý Đông A nói rất nhiều về Nhân Chủ, Nhân Sinh, Nhân Cách ... và sự tu dưỡng (Thiết Giáo), những lý tắc, quy luật nền tảng (Chìa Khóa Thắng Nghĩa, Đường Sống Việt), kiến trúc căn bản (Cơ Năng Hiến Pháp, Cơ Năng & Bản Vị, Duy Nhân Cương Thường), viễn kiến (Chu Tri Lục, Huyết Hoa, Bình Sản Kinh Tế...). Đó chỉ là những nét chính, đại cương mà không có chi tiết.

Đó là một cái bẫy.

Cách mạng không phải chỉ dành cho những kẻ u ơ, ấu trĩ, ăn cướp, chụp giựt tư tưởng của người làm của mình và gọi đó là cách mạng. Cách mạng dành cho những người có tâm huyết, có tu dưỡng, có nhân đạo ... thực hiện. Vì một trong những tài liệu (Chìa Khóa Thắng Nghĩa) Lý Đông A đã mở đầu bằng cách nói đến đạo kỷ, tự kỷ. Mà đạo kỷ, tự kỷ chỉ có nơi những ai có khả năng lãnh đạo, không phải dành cho thường dân hay kẻ bại hoại, du thủ, du thực.... Như vậy có nghĩa là tư tưởng Lý Đông A dành cho những người có tu dưỡng để lãnh đạo Cách Mạng cho nên không phải ai cũng đọc và hiểu để hành động.

Đã có những lãnh tụ giả mạo đi lướt qua để tìm đến phần chỉ dạy "thực hiện cách mạng" nắm chính quyền … và dĩ nhiên không tìm thấy đâu trong các tài liệu của Duy Dân.

Vì vậy họ cho là khó hiểu.

Họ chỉ đi tìm ngọn: cướp chính quyền, cai trị dân để bóc lột chứ không phải vì dân, Duy Dân.

Họ đã quên gốc: con người (bản thân). Vì quên chính bản thân họ, họ quên dân tộc (đáy tầng).

Họ quên dân tộc là mục đích mà chỉ nghĩ đó là phương tiện giúp họ nắm quyền lực.

Không có tu dưỡng bản thân, họ mất gốc, Sinh Mệnh Gốc. Không nghĩ đến dân tộc, họ không có Lực Lượng Gốc. Vì không thực tâm đi làm cách mạng, họ không có Cách Mạng Gốc. Vì chỉ là gian dối, họ đi tìm Hành Động Gốc như là "mì ăn liền" và dĩ nhiên họ không bao giờ tìm được.

Bởi vì nếu họ thực hiện cách mạng thì cũng chỉ đạt đến trình độ như đảng cộng sản VN đang làm là cùng tột.

Vậy để phân biệt thực/giả về những ai đi thực hiện tư tưởng Duy Dân là yếu tố gì?

Lương thiện.

Thánh nhân đã dạy con người về Chân-Thiện-Nhẫn. Muốn đi tìm Chân (sự Thực) thì phải có tâm Thiện (lương thiện) và lòng kiên nhẫn (Nhẫn).

Một nhà đạo diễn miền Bắc đã nói về Người Tử Tế.

Nhà thơ Nguyễn Chí Thiện đã nói về "nhà lãnh đạo" cướp công kháng chiến để đưa dân tộc vào cuộc chiến 20 năm và cuối cùng đem bán nước cho chủ nghĩa Cộng Sản.

Cộng sản VN đã kiên Nhẫn để hủy hoại đất nước và dân tộc nhưng rõ ràng họ đã không lương Thiện và tất cả những gì cộng sản xây dựng chỉ là giả dối, không Thực.

Vậy những người không cộng sản phải làm khác những gì cộng sản đã làm chứ không phải cóp nhặt những thủ đoạn của cộng sản để tái diễn cách mạng cứu nước.

Nếu người cộng sản (lãnh đạo) khởi đi sự giả dối, lừa gạt, tàn bạo... thì người không cộng sản phải khởi đi từ sự lương thiện, thật lòng, nhân đạo...

Nếu A là một người lương thiện, anh ta sẽ đi tìm B, một người lương thiện khác để cùng chia xẻ những khó khăn của đời sống. Họ sẽ gặp C và nhiều người lương thiện khác để cùng thiết lập một cộng đồng tử tế, giúp đỡ lẫn nhau vì nếu họ phải sống dưới một chính quyền hà khắc, tàn bạo... thì nếu họ không dựa vào nhau để sống thì sẽ chẳng có thế lực ngoại bang nào giúp họ "thoát Trung" cả.

Đất nước và dân tộc Việt đã trải qua hàng trăm năm nội chiến Trịnh-Mạc, Trịnh-Nguyễn, Nguyễn Huệ-Nguyễn Ánh... rồi chiến tranh chống Pháp, Nhật, Nam-Bắc.... Lương tâm con người đã suy yếu, tàn tạ để còn chỉ biết lo thân, để mặc xã hội tan hoang. Cộng sản thống nhất đất nước để đưa dân tộc đi làm toi mọi, đĩ điếm cho thế giới. Cộng sản bán nước, bán dân chưa nặng bằng hủy hoại văn hóa Việt, ngôn ngữ Việt để dọn đường cho Hán tộc xâm lăng nước Việt.

Trước mối đe dọa đó, chúng ta chỉ còn lại vũ khí duy nhất: sự lương thiện của con người.

Đó là sự phân biệt giữa con người và con thú.

Trần Công Lân

Tháng 12 năm 2021 (Việt lịch 4900)

Nguồn: https://nganlau.com/2022/03/01/that-la-kho-hieu-ly-dong-a/

 

Chính Trị và Khoa Học

 

Chính trị là một môn học nghệ thuật (art) vì sự trừu tượng, uyển chuyển của các sự kiện, vấn đề đối phó xoay quanh con người.

Khoa học (science) là môn học đòi hỏi sự chính xác vì phát sinh từ toán học, quan sát, thử nghiệm, chứng minh.

Nhưng cả hai có chung một nguồn gốc: Triết học. Triết học là môn học tìm hiểu sự suy nghĩ của con người tới mức độ khôn ngoan nhất. Từ triết học con người suy nghĩ và phát sinh toán học dẫn đến khoa học. Cũng như tôn giáo phát sinh từ sự suy nghĩ khôn ngoan nhất của người sáng lập và dùng hình ảnh của đấng tối cao để răn dạy con người. Tôn giáo thiếu triết học chỉ là những kẻ cuồng tín.

Khi loài người tiến lên từ bộ lạc đến sự thành lập quốc gia thì ý thức chính trị thành hình. Và khi khoa học chưa giải thích được những hiện tượng thiên nhiên thì con người dựa vào tôn giáo đưa đến thần quyền. Sự xung đột giữa Vương quyền (chính quyền) và Giáo quyền trong việc cai trị đất nước và còn xảy ra đến nay.

Tất cả là niềm tin giữa con người và con người. Tin qua tôn giáo hay tin qua chính quyền do người dân chọn lựa. Nhưng khi con người hủ hóa, biến chất thì cho dù là giáo quyền hay chính quyền thì biết dựa vào đâu mà sửa trị?

Vậy thì triết học có giải quyết được bế tắc này không?

Con người là sinh vật biết suy tư, lý luận. Nhưng tiếc thay không phải ai sinh ra cũng có năng khiếu, trình độ như nhau.

Cho dù các nhà lãnh đạo tôn giáo muốn dạy tín đồ những điều tốt lành cũng như các nhà lãnh đạo chính trị muốn thực hiện quốc dân giáo dưỡng nhưng người dân đáy tầng chỉ muốn tứ khoái trước mắt thì làm sao mà giáo dục để nâng cao dân trí?

Vậy khi chính trị gia nói đến khoa học trong những vấn đề của con người, nhân loại thì mục đích là gì?

Khoa học thường là tiến nhanh hơn mọi ngành học khác mở đường cho kinh tế, thương mại, y tế, kỹ nghệ, nông nghiệp.... Mà các chính trị gia thì muốn dân giàu, nước mạnh nhưng  không có lý thuyết, chủ thuyết nào dẫn đường?

Do đó các nhà chính trị thường đem thành quả khoa học ra để vẽ lên một thiên đường như cộng sản đưa ra thiên đường "làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu" làm bánh vẽ. Cũng không khác gì nền kinh tế tư bản đưa ra thị trường chứng khoán, kích thích người dân tiêu thụ như là niềm vui hạnh phúc của con người.

Chúng ta đã thấy chủ nghĩa cộng sản đã lộ mặt thật và tư bản cũng chẳng hơn gì khi đang khai thác tài nguyên thiên nhiên đến khô cạn và bắt đầu đi tìm trái đất mới?

Con người tạo ra tất cả: triết học, tôn giáo, khoa học.... Vậy khi con người sử dụng những sản phẩm do mình (loài người) tạo nên một cách lộn xộn thì xã hội cũng xáo trộn theo.

Nếu người lãnh đạo (hay có trách nhiệm dẫn dắt) mà thiếu sự suy nghĩ khôn ngoan của triết học thì thường dựa vào tôn giáo hay khoa học. Dẫn chứng những thành quả khoa học hay niềm tin nơi tôn giáo từ các nhà chính trị cho thấy họ đã không nhìn người dân như con người để đối thoại bình đẳng, trực tiếp qua lý luận dẫn chứng cụ thể. Sự vay mượn thành quả khoa học hay tôn giáo có thể là với ý định tốt nhưng dễ sai lạc vì trình độ con người tiếp thụ khác nhau. 

Cả hai con đường đều nguy hiểm cho nhân loại.

Cho dù người phát minh ra một sáng kiến khoa học có ý xây dựng, cải tiến xã hội nhưng trong xã hội vẫn có những kẻ xấu lạm dụng sáng kiến để gây rối xã hội và thủ lợi (thí dụ như tin tặc-hacker-trên mạng). Cũng vậy trên mặt tôn giáo, mục đích của tôn giáo là răn dạy con người sống trong hòa bình, yêu thương nhưng vẫn có kẻ lợi dụng để hại người. Nhưng cũng tại con người mù quáng, ỷ lại nên mới bị gạt bởi những lời dụ dỗ (thí dụ: các vị lãnh đạo tôn giáo chống phá thai nhưng lại làm ngơ trước sự sách nhiễu tình dục trẻ em).

Người làm chính trị phải đối phó đủ mọi vấn đề, mọi mặt. Vậy nếu căn bản, bản chất của người làm chính trị không đủ tu dưỡng để quyết định với những rối loạn của xã hội thì làm sao trị nước, an dân?

Để thuyết phục những người cộng sự viên trong cùng cơ năng, bản vị hay ngành nghề chuyên môn rồi lan ra đến mọi giới trong xã hội thì người làm chính trị phải có một triết lý, không phải triết lý cái dù, cái đình mà là một triết lý áp dụng cho nhân loại. Triết lý phải phục vụ con người, vượt lên trên khoa học, tôn giáo thì mới tránh được những cạm bẫy của khoa học, tôn giáo.

Kết luận

Làm chính trị thì chẳng nên lôi tôn giáo, khoa học ra khen để lôi kéo quần chúng vì đó chỉ là con dao hai lưỡi. Mà chơi dao thì có ngày đứt tay.

Trần Công Lân

Tháng 11 năm 2020 (Việt lịch 4899)

Nguồn: https://nganlau.com/2021/02/01/chinh-tri-va-khoa-hoc/

 

Tu Dưỡng Thắng Nhân: Cơ Năng và Bản Vị

Cơ Năng và Bản Vị là nguyên lý hình thành vật chất và xã hội. Đây là một nguyên lý sống xảy ra từ khi có sự xuất hiện của trái đất và con ng...