Thứ Sáu, 29 tháng 3, 2024

Nhân Bản Cương Thường: Nhu Cầu Sinh Mệnh (Tự chủ) P1

 

Để giải quyết nhu cầu nhu yếu, Con Người phải tự làm chủ lấy mình, tự mình quyết định cho cuộc sống của chính mình và xã hội mình đang sống.

Nhìn về lịch sử của loài người kể từ khi Con Người xuất hiện trên trái đất này, Con Người luôn luôn tự làm chủ lấy chính mình ngay từ thời ăn lông ở lổ của loài người. Hành động làm chủ lấy chính mình tức là bản thân mình phải quyết định làm gì để tạo ra thức ăn; làm gì để đối chọi với thiên nhiên, với thú dữ; làm gì để tránh chuyện tài sản, con thú mình vừa săn về không bị người khác cướp giựt, không bị hư thối vì ăn không hết trong vài ngày.

Tất cả những vấn nạn mà chính Con Người thời nguyên thủy phải đối diện đã đưa họ đến quyết định hợp thành từng nhóm, từng đoàn, từng bộ lạc để giải quyết những khó khăn mà một cá nhân không thể nào giải quyết được. Để tránh thịt một con thú không bị hư hại, họ đồng ý cùng nhau chia sẻ con thú để mọi người đều có thức ăn, mọi người đạt được nhu cầu nhu yếu tối thiểu đó là cái ăn. Trong cái chia sẻ này họ đã thực hiện hành động quan hệ hữu tương giữa cá nhân với tập thể để tất cả mọi người cùng tiến hóa, đạt được nhu cầu ăn cho tất cả mọi người mà không phí phạm thức ăn.

Để đối chọi lại với thiên nhiên, chẳng hạn như làm sao săn bắt một con thú lớn, mạnh hơn cá nhân, họ kết hợp với nhiều người khác -- cùng nhau săn thú nhằm tạo thức ăn cho tất cả những người trong cùng một nhóm, một bộ lạc. Tinh thần đùm bọc lẫn nhau, hợp tác lẫn nhau để cuộc sống của mọi người thăng hoa đã có từ khi Con Người xuất hiện trên trái đất này.

Để tránh những cá nhân mạnh, những nhóm khác, những bộ lạc khác cướp lấy tài sản con thú mình vừa săn, họ cùng nhau kết hợp lại thành một nhóm riêng, một bộ lạc riêng nhằm bảo vệ lẫn nhau, tạo cuộc sống cho chính thành viên trong nhóm đó, bộ lạc đó được an toàn hơn. Đây là tinh thần tự vệ của cá nhân, của bộ lạc, đối với sự xâm chiếm của người ngoại tộc. Tinh thần tự vệ này khởi đầu từ chính bản thân của mỗi người, nhận diện ra nhu cầu phải đoàn kết, hợp tác để cùng nhau bảo vệ an ninh cho chính mình và những người khác trong bộ lạc của chính mình.

Từ khía cạnh lịch sử đó, nhiều Con Người kết hợp lại với nhau để trở thành một xã hội, một quốc gia -- không ngoài mục đích giúp đỡ, bảo vệ, và cùng nhau quyết định chính sinh mệnh của mình, bộ lạc mình, quốc gia mình. Bộ lạc nào, quốc gia nào không tôn trọng sinh mệnh của mỗi thành viên sống trong đó, không cho mọi người quyền quyết định lấy sinh mệnh của chính mình, chính dân tộc mình thì quốc gia đó sẽ bị một quốc gia khác thôn tính, đồng hóa hoặc nền văn minh của một dân tộc trên một khía cạnh nào đó của lịch sử sẽ tàn lụi để trở thành một dân tộc yếu kém so với các dân tộc khác cùng thời đại. Một thời huy hoàng của Ai Cập với Kim Tự Tháp, của dân tộc Miên với những tượng ở vùng Angkor, nền văn minh Cahokia của người Mỹ da đỏ trước khi bị người Âu Châu xâm chiếm là những thí dụ điển hình để thấy rõ nhu cầu sinh mệnh của Con Người ảnh hưởng đến xã hội mình đang sống ra sao.

Hãy cùng nhau so sánh sự phồn thịnh của một quốc gia dân chủ với những quốc gia độc tài để thấy được tầm quan trọng của Nhu Cầu Sinh Mệnh ảnh hưởng đến sự phát triển xã hội và Con Người ra sao.

Tại các quốc gia độc tài, sinh mệnh của cá nhân, của xã hội, của toàn thể dân tộc do các nhà độc tài, hay thiểu số độc tài lãnh đạo (hình thức đảng) quyết định sự sống của mỗi cá nhân, sự sống của dân tộc, hướng tiến lên của dân tộc. Nhà cầm quyền độc tài cộng sản VN là một thí dụ điển hình. Quốc Hội Việt Nam phải chờ đợi chỉ thị của đãng (cố ý viết sai dấu cho đúng bản chất), chính sách của đãng, hay nghị quyết của đãng để có thể làm ra luật phù hợp lợi ích của đãng, cho dù lợi ích này đi ngược lại lợi ích của dân tộc. Những người trong Quốc Hội Việt Nam cũng chẳng dám nắm lấy sinh mệnh của chính mình để phục vụ đất nước và dân tộc. Trái lại Quốc Hội VN để đãng cộng sản VN nắm lấy sinh mệnh của chính họ và cá nhân của mỗi thành viên trong bộ máy Quốc Hội VN là những người nô lệ trung thành của đãng, nô lệ cho đồng tiền, nô lệ cho quyền lực.

Các cá nhân sống trong xã hội hoàn toàn không có quyền quyết định cho sinh mệnh của chính mình, của dân tộc mình mà đãng cộng sản VN giành cái quyền quyết định đó -- để rồi cuối cùng, lịch sử Việt tộc được cạo sửa cho phù hợp với sự tuyên truyền của đãng cầm quyền; để rồi giáo dục sản sinh ra những tiến sĩ giấy, hoàn toàn không có khả năng; để rồi toàn bộ xã hội im lặng trước cái ác, đạo đức xã hội không quan trọng mà tiền, giả dối, lừa gạt là cái quan trọng trong cuộc sống hiện tại. 

Sự giả dối, lừa gạt đã đạt đến tột đỉnh để rồi mọi người cảm thấy chuyện phi đạo đức này là chuyện thường tình, chẳng có gì phải nói, phải đóng góp -- bởi cái sinh mệnh của mỗi cá nhân, của xã hội đã bị kiềm chế bằng nhiều cách mà trong đó bạo lực đóng một vai trò không nhỏ. Sự kiềm chế sinh mệnh của mỗi người đã làm số đông người Việt sống tại VN không còn nghĩ đến nhu cầu mình phải giành lại cái quyền quyết định sinh mệnh cho chính mình, chính dân tộc mình. Sự kiềm chế đã làm cho số đông chấp nhận cuộc đời nô lệ (cho tiền, danh vọng, vật chất, của cải, quyền hành) trên chính lãnh thổ, dân tộc của chính mình.

Trong khi đó ở các quốc gia dân chủ tôn trọng Nhu Cầu Sinh Mệnh của con người đã tạo ra một cơ chế mà mọi người có thể tự mình quyết định cho hướng đi của bản thân mình, của gia đình mình miễn sao sự quyết định đó không ảnh hưởng đến sự sống còn của người khác trong xã hội mình đang sống. Chính vì tôn trọng Nhu Cầu Sinh Mệnh mà những khoa học kỹ thuật được phát triển để đem vào cuộc sống của Con Người, làm thăng hoa cuộc sống của toàn xã hội. Tạm thời gác bỏ những khuyết điểm của hệ thống dân chủ ở các nước dân chủ trên thế giới, mà hãy nhìn về khía cạnh để mọi người quyết định Nhu Cầu Sinh Mệnh của chính bản thân, của xã hội, và từ đó đến hướng tiến của một quốc gia. Tất cả đều khởi hành bằng hành động mỗi cá nhân phải làm chủ với chính sinh mệnh của mình.

Làm chủ chính sinh mệnh của mình khởi đầu bằng sự tự đánh giá đúng khả năng của chính mình và cái khả năng đó sẽ đóng góp vị trí nào phù hợp trong bộ máy xã hội. Dĩ nhiên sẽ có người cho rằng nếu tự mình đánh giá khả năng của chính mình thì chưa chắc đúng bởi có tính chủ quan trong đó. Đồng ý rằng để nhận định cho rõ bản chất của sự việc cần phải dựa vào tính khách quan chứ không thể dựa vào tính chủ quan bởi tính chủ quan luôn luôn nhìn vấn đề qua cảm tính của cá nhân, cho nên sai với sự thật của sự thật. Cách nhìn khách quan này chỉ đúng khi nhìn sự vật không phải là chính bản thân của mình. Còn với chính bản thân của mình thì chỉ có mình, duy nhất, mới hiểu rõ chính mình có khả năng gì, làm được gì và không làm được gì.

Thí dụ: Khi một cá nhân bị bệnh, không khỏe trong người thì chỉ có cá nhân đó biết mình bệnh, biết mình đau ở chỗ nào, cảm giác đau ra sao. Trong trường hợp tự mình đánh giá chính mình thì tính chủ quan đóng một vai trò rất quan trọng và chỉ có mình mới thực sự hiểu được chính mình với điều kiện cá nhân đó phải thực lòng chấp nhận cái thực tế khả năng của chính mình.

Vũ Hoàng Anh Bốn Phương

Tháng 12 năm 2023 (Việt lịch 4902)

Nguồn: https://nganlau.com/2024/03/01/nhan-ban-cuong-thuong-nhu-cau-sinh-menh-tu-chu-p1/

 

 

Nhân Bản Cương Thường: Nhu Cầu Sinh Mệnh (Tự chủ) P2

 

Tự đánh giá chính bản thân mình không cần đòi hỏi phải học từ trường lớp nào, không đòi hỏi phải là người có trình độ tri thức cao mà đòi hỏi cá nhân đó có sự thành thật với chính mình, chịu lắng nghe với chính tâm của mình hay không, chịu để tâm trí lắng đọng trong không gian và thời gian để tự mình nhìn lại chính mình cho chính xác hơn và hiểu rõ chính mình thực tế hơn.

Cái tâm lý sợ hãi, tự ti, tự ái, tự tôn, ỷ lại sẽ phá hoại tất cả những đánh giá về chính bản thân của mình. Phải mang tâm lý hướng thượng là Con Người không bao giờ hoàn hảo mà Con Người luôn luôn có những khác biệt; và chính những khác biệt này làm cho mỗi Con Người trong xã hội có sự quan trọng, đóng góp bằng nhau nếu mỗi cá nhân hoàn thành tất cả những khả năng mình có trong vị trí của chính mình trong xã hội. Đừng bảo rằng vị bác sĩ quan trọng hơn bác nông dân trong xã hội. Nếu không có bác nông dân sản xuất ra lúa gạo thì vị bác sĩ làm gì có cơm ăn để được đi học thành bác sĩ. Còn nếu không có vị bác sĩ thì khi lúc bác nông dân bệnh thì làm sao có thể hết bệnh để tiếp tục làm công việc sản xuất lúa gạo của chính mình. Cả hai người đóng hai vị trí quan trọng trong xã hội và không có vị trí nào quan trọng hơn vị trí nào.

Thái độ coi thường mọi người, xem mình quan trọng, tài giỏi hơn hay xem tổ chức (đảng) mình tài giỏi hơn là thái độ của những người thất bại mà đãng cộng sản VN là một thí dụ điển hình. Họ xem họ tài giỏi hơn mọi người để họ bắt cả dân tộc theo con đường xã hội chủ nghĩa. Họ ỷ lại, tự ti, mặc cảm không dám đánh giá chính khả năng của mình để rồi họ đảm nhận những trách nhiệm của họ trong vị trí xã hội không đúng chỗ -- cuối cùng đất nước Việt đã không còn là đất nước Việt với những bản chất Việt mà cha ông đã để lại trong suốt 4 ngàn năm lịch sử.

Hãy tưởng tượng một bác nông dân làm ruộng tài giỏi mà bắt bác nắm giữ chức vụ lãnh đạo ngành y khoa và một vị bác sĩ tài ba bắt phải đi làm ruộng thì rõ ràng sự phân phối công việc của xã hội đã không đúng vị trí và từ đó dẫn đến hiệu quả nghiêm trọng mà xã hội Việt Nam hiện giờ là kết quả của sự phân phối công việc không đúng vị trí đó. Sự phân phối công việc không đúng vị trí của từng cá nhân bởi vì mỗi cá nhân tại VN, trong đó gồm có đãng viên đãng cộng sản VN, đã không có cái quyền quyết định sinh mệnh cho chính mình mà để cho đãng cộng sản VN (một tập thể vô trách nhiệm đối với xã hội) quyết định tất cả mọi sự việc.

Nhìn về lịch sử Việt chúng ta thấy nhu cầu sinh mệnh này đã đưa dân tộc chúng ta thoát khỏi 1000 năm đô hộ của Tàu. Nhu cầu sinh mệnh này khởi đầu bằng chính cá nhân nhìn ra được vấn đề mà Trưng Trắc, Trưng Nhị, Ngô Quyền là thí dụ điển hình -- để rồi những cá nhân đó tự đứng lên chống lại các thái thú Tàu, giành lại quyền tự quyết cho chính cá nhân mình, gia đình mình, dân tộc mình.

Dưới đời nhà Trần, Hội Nghị Diên Hồng diễn ra để các bô lão họp lại bàn việc nên hòa hay chiến với giặc Mông Cổ. Toàn dân dưới đời nhà Trần đồng ý quyết chiến chống lại sự bành trướng của giặc Mông Cổ. Vua, quan, dân cùng nhau quyết định sinh mệnh của dân tộc để rồi cuối cùng cha ông ta đánh bại đoàn quân bách chiến, bách thắng Mông Cổ. Vua Trần Thánh Tông đã tôn trọng quyền tự quyết của chính mỗi người dân và cùng với người dân đấu tranh giành quyền tự quyết cho dân tộc của mình.

Nhìn lại VN hiện giờ thì cái quyền tự quyết sinh mệnh của chính mình, của chính dân tộc mình hoàn toàn bị biến mất để thay vào đó quyền quyết định của một tập thể đãng cộng sản VN, hèn với giặc nhưng ác với dân. Cái gì đã đưa đất nước đến thảm cảnh hôm nay? Chính chủ nghĩa cộng sản đã thiêu hủy toàn bộ nền văn hóa của hơn 4 ngàn năm; chính chủ nghĩa cộng sản đã cướp đi lấy nhu cầu sinh mệnh của mỗi người VN; chính chủ nghĩa cộng sản đã làm cho mỗi người VN bị sợ hãi để rồi chấp nhận giao sinh mệnh mình cho người khác nắm giữ -- miễn sao mình sống còn dù phải làm nô lệ thì vẫn sẵn sàng sống kiếp đời nô lệ thay vì chọn nếp sống thật anh dũng như cha ông đã sống trong quá khứ 4 ngàn năm lịch sử.

Là người Việt Nam của thế kỷ 21 này, chúng ta cần phải hiểu rõ Nhu Cầu Sinh Mệnh ra sao và cái Nhu Cầu Sinh Mệnh này đã đóng góp trong tiến trình lịch sử hơn 4 ngàn năm của dân tộc ra sao. Hiểu rõ để từ đó chúng ta xây dựng lại một đất nước VN dựa trên căn bản Nhân Bản Cương Thường để áp dụng vào công việc kiến thiết, xây dựng, giáo dục, đối nội, đối ngoại, kinh tế, ngoại giao, giao thương v.v….

Sự phát triển của lịch sử xã hội loài người là do chính Con Người tự làm chủ lấy chính mình và cùng những cá nhân khác trong xã hội để quyết định cho hướng tiến của xã hội.  Nếu để ai đó làm chủ cuộc sống của chính mình thì cuối cùng mình không phải là mình mà là một nô lệ cho ai đó hay sẽ bị một dân tộc khác thôn tính.

Đã đến lúc dân tộc Việt phải can đảm nhìn lại chính mình và can đảm loại bỏ những sợ hãi để cùng nhau đấu tranh giành lại quyền tự quyết cho chính mình; tự mình quyết định cho sinh mệnh của mình, của làng xóm mình và dân tộc mình. Cha ông của chúng ta nếu sợ hãi như chúng ta hiện giờ thì 1000 năm Bắc thuộc vẫn còn. Hãy sống cho thật đáng sống chứ đừng sống để làm nô lệ cho ai đó, cho tiền bạc, cho vật chất để rồi cuối cùng chính những thứ đó sẽ tiêu diệt đi chính dân tộc của mình.

Hãy can đảm lên tiếng trước những sai trái cho dù người đó là thầy, cha, mẹ, vị lãnh đạo tôn giáo, những người có địa vị xã hội cao. Thái độ im lặng trước sai trái là thái độ của đồng lõa, của sự thỏa hiệp với cái xấu, cái ác, cái sai. Nếu nhiều người tự làm chủ chính mình, lên tiếng trước những sai trái thì xã hội sẽ loại những người xấu trong hệ thống sinh hoạt của xã hội.

Hãy can đảm chối từ hợp tác, nhận những quyền lợi ban phát từ những người ăn gian nói dối; xem thường người khác; đặt nặng bằng cấp hơn là nhân cách, nhân sinh, nhân chủ trong cuộc sống. Nếu mình làm chủ được chính mình thì phải nhìn ra được những cá nhân khác trong xã hội để biết cách ứng xử hầu tạo cơ hội cho mọi người cùng tiến. Những người nói mà không làm, hoặc nói một đàng làm một nẻo thì là những con người không đáng tin cậy; họ là những con người không sống thật với chính họ mà người làm chủ được sinh mệnh của mình sẽ không giao lưu với những người như thế. 

Con người chỉ có thể tự chủ qua giáo dục để nắm vững ý nghĩa cuộc sống trong tương quan hai chiều: cá nhân đóng góp xã hội và xã hội giúp con người phát triển. Trong cuộc sống, con người có thể suy nghĩ và làm việc trong mọi lãnh vực với đam mê vô tận nhưng về thể chất thì đời sống con người có giới hạn bởi thời gian. Với thời gian của mỗi người thì nếu tận lực, tận tâm để đóng góp cho xã hội và gồm cả bản thân thì thế giới sẽ bớt đau khổ.

Vũ Hoàng Anh Bốn Phương

Tháng 12 năm 2023 (Việt lịch 4902)

Nguồn: https://nganlau.com/2024/03/01/nhan-ban-cuong-thuong-nhu-cau-sinh-menh-tu-chu-p2/

 

 

 

Nhân Bản Cương Thường: Nhu Cầu Tự Do & Quyền Tư Hữu

 Để thực hiện nhu cầu nhu yếu và nhu cầu sinh mệnh, mỗi Con Người sống trong xã hội cần phải có nhu cầu tự do bởi nếu không có sự tự do thì sẽ không thực hiện được hai nhu cầu vừa nói bên trên.

Tự do có ngay từ khi loài người xuất hiện trên trái đất này. Cần phải phân biệt tự do của thời nguyên thủy loài người với sự tự do trong một xã hội loài người.

Tự do thời nguyên thủy là mỗi con người có quyền tự do không giới hạn. Có nghĩa là con người sống ở thời đại này cũng giống như loài thú, mạnh được yếu thua. Khi một cá nhân A ở thời đại này, săn bắt một con thú thì một cá nhân B có thể cướp lấy con thú này bằng sức mạnh của chính mình. Cả hai cá nhân này đều sử dụng quyền tự do của chính mình để thực hiện nhu yếu ăn. Tuy nhiên, thay vì bỏ công sức ra làm chuyện săn bắn thì người thứ hai bỏ công sức ra để thực hiện chuyện cướp giựt thực phẩm của người khác.

Do đó từ tự do đến tự chủ đòi hỏi cá nhân phải có ý thức tu dưỡng để sống hợp tình, hợp lý trong xã hội. Tu dưỡng để biết mình, biết người; để biết phân biệt đúng-sai, để biết Thiện-Ác; để sống với tinh thần tự kỷ, tự giác; để sống và giúp người khác sống vì sinh mệnh mỗi người đều có giới hạn.

Khi thấy ra được sự bất công trong việc giải quyết nhu cầu ăn nếu tiếp tục trong một xã hội loài người nguyên thủy, những Con Người thời đại này, do nhu cầu ăn và nhu cầu sinh mệnh của chính mình, họ đồng ý liên kết lại với nhau để trở thành một nhóm người, một bộ lạc và chấp nhận quyền tự do có giới hạn nhằm bảo đảm nhu cầu ăn của mình không bị ai cướp giựt, đồng thời quyết định được sinh mệnh của chính mình.

Khi các bộ lạc được hợp thành một xã hội lớn để trở thành một quốc gia, thì quyền tự do của mỗi con người trong quốc gia đó vẫn phải có trong giới hạn là quyền tự do đó không làm hại đến quyền tự do của người khác, không làm hại đến tài sản, tính mạng của người khác. Đây chính là quyền tự do của một xã hội loài người mang tính Người. Bất cứ chính quyền nào xâm phạm quyền tự do của Con Người, xâm phạm tài sản, tính mạng của Con Người trong xã hội tức là đã vi phạm Nhân Bản Cương Thường.

Quyền tư hữu

Ngay từ thời nguyên thủy của loài người, quyền tư hữu đã có cùng lúc với sự xuất hiện của Con Người. Quyền tư hữu ở thời điểm đó không hẳn là tài sản mà là sức lao động của chính bản thân. Cái sức lao động đó chính là quyền tư hữu của Con Người và chính cái sức lao động đó để tạo ra của cải, vật chất cho cuộc sống cá nhân.

Chính sức lao động của mình, người dân có thể tự mình xây một căn nhà cho chính mình. Hoặc khai hoang một mảnh đất không trù phú thành một mảnh đất trù phú. Khi một mảnh đất thời xa xưa, không ai làm chủ và một cá nhân bỏ sức lao động của chính mình để khai phá mảnh đất rừng thành cánh đồng phì nhiêu thì cánh đồng phì nhiêu đó là tài sản của cá nhân đó, không ai, không một chính quyền nào có quyền lấy tài sản đó.

Chuyện đất đai, nhà cửa của người dân đã có trước khi có sự xuất hiện của đãng (cố ý viết sai dấu cho đúng bản chất) csvn và khi đãng csvn thu tóm toàn đất nước thì người dân mất đi quyền tư hữu đất đai và nhà cửa của chính mình. Đây là một sự cướp giựt trắng trợn tài sản và quyền tư hữu của người dân mà thời phong kiến, thực dân đã không làm chuyện đó.

Quyền tư hữu là quyền bất cả xâm phạm nếu cá nhân sống trong xã hội đã danh chính, ngôn thuận tự mình tạo ra tài sản của chính mình thì không một ai, lấy bất cứ danh nghĩa nào, cướp đoạt tài sản đã có đó.

Dĩ nhiên nếu cơ cấu cầm quyền cần trưng dụng đất đai tư nhân cho lợi ích chung của tập thể thì cần phải bồi thường số tiền trên mức giá trị của thị trường và chủ nhân của mảnh đất phải đồng ý bán lại mảnh đất đó bởi đây là lợi ích chung của xã hội. Thí dụ cần mở thêm đường xá và cần trưng dụng đất đai của tư nhân qua sự bồi thường (mua lại) thì tư nhân phải bán theo đúng yêu cầu mà luật pháp đã đưa ra trong việc bồi thường mảnh đất được trưng dụng cho lợi ích của xã hội.

Vũ Hoàng Anh Bốn Phương

Tháng 12 năm 2023 (Việt lịch 4902)

Nguồn: https://nganlau.com/2024/03/15/nhan-ban-cuong-thuong-nhu-cau-tu-do-quyen-tu-huu/

 

 

Nhân Bản Cương Thường: Quyền Tự Vệ & Vô Tội

 

Quyền tự vệ

Đây là quyền tự do đầu tiên khi mà chính những con người thời nguyên thủy đồng ý ngồi lại với nhau để cái quyền này được bảo đảm. Vì sự tự vệ cho chính bản thân mình, tài sản mình không bị cướp giựt, những con người thời nguyên thủy đồng ý ngồi lại với nhau để cùng bảo vệ lẫn nhau về mặc nhu yếu của ăn và đồng thời thể hiện bản tính tự nhiên của Con Người là phải tự tìm cách bảo vệ lấy sinh mệnh và tài sản của mình khi mà sinh mệnh và tài sản của mình bị một ai đó cướp giựt.

Với tiến trình lịch sử của loài người, quyền tự vệ ngày càng được cải tiến để phù hợp với tri thức của Con Người. Ở thời đại của thế kỷ 21 này, quyền tự vệ được giải quyết qua hai phương pháp đó là luật pháp và tự vệ bản thân đáp ứng lại sự nguy hiểm cho tính mạng của cá nhân đó.

Trong trường hợp cá nhân A đang bị cá nhân B đánh đập bằng dao và có thể làm mất đi sinh mạng của cá nhân A -- thì cá nhân A, hoặc những người khác, có thể chống lại hành vi cá nhân B, chấm dứt hành động thô bạo của B đối với A. Đây là hành động tự vệ và nếu trong hành động tự vệ này, cá nhân B có thể bị thương, hoặc chết thì cá nhân A, hoặc bất cứ ai giúp cá nhân A, không phải bị tội mà là thực hiện quyền tự vệ của chính mình, hoặc quyền tự vệ của một cá nhân ngoài cuộc, ngăn cản một cá nhân khác chấm dứt hành động thô bạo trong xã hội.

Thí dụ bên trên chỉ được thực hiện khi mà tính mạng của cá nhân đang bị đe dọa. Còn nếu như cá nhân B ăn cắp đồ của cá nhân A thì chuyện ăn cắp này cần phải đưa ra tòa, với luật pháp của xã hội để xét xử. Quyền tự vệ để tìm công lý phải do luật pháp, do những người ngoài cuộc xử thì mới có sự công tâm. Khi tính mạng mình không bị đe dọa thì bất cứ hành động nào, của bất cứ cá nhân nào làm thiệt hại tài sản, tinh thần của mình phải do chính luật pháp xử lý.

Dĩ nhiên đây là chuyện được giải quyết trong một xã hội dân chủ, có luật pháp. Còn đối với hoàn cảnh của Việt Nam, một xã hội độc tài, có luật pháp nhưng luật pháp để bảo vệ quyền lợi của đãng (cố ý viết sai dấu) cầm quyền thì người dân chẳng còn sự lựa chọn nào khác hơn là sự lựa chọn -- tự mình giải quyết lấy sự bất công.

Đó là lý do tại sao chúng ta thấy người dân sẵn sàng bắt, hành hạ, đánh đập người trộm chó, trộm gà bởi luật pháp của nhà cầm quyền là luật rừng, mạnh được, yếu thua; luật dành cho những người có tiền để mua chuộc tòa án nhằm cướp đất, cướp của người không có tiền, không có quyền; công an không bận tâm để giải quyết chuyện trộm chó, trộm gà bởi không có quyền lợi (lo lót tiền bạc) từ những người (trộm hoặc bị trộm) chẳng có gì để lo lót. 

Thái độ tự giải quyết sự bất công tại Việt Nam, trớ trêu thay, chỉ xảy ra ở những người thấp cổ bé miệng đối với những người thấp cổ bé miệng. Nghĩa là người dân rất cản đảm bắt đánh người trộm chó, trộm gà nhưng lại sợ hãi sự cướp giật có bài bản từ nhà cầm quyền, sự giết người có bài bản từ nhà cầm quyền. Bao nhiêu người vào cơ quan công an để rồi trở về với cái xác mà không người dân nào dám làm như chuyện bắt người trộm chó, trộm gà để đánh, để hành hạ cho chính bản thân tội phạm học bài học bản thân?

Có lẽ số đông người dân đã không còn hiểu rõ khái niệm quyền tự vệ là gì, từ đâu mà có và thế nào gọi là thực hiện quyền tự vệ cho bản thân mình. Chính vì không nắm rõ khái niệm này mà sự tự vệ của người dân vẫn là hành động của thời nguyên thủy loài người, mạnh được yếu thua. Ai mạnh hơn mình thì mình cắn răng chịu đựng. Còn ai yếu hơn mình thì cứ đánh đập để dạy cá nhân đó một bài học mà hành động đánh người trộm chó là thí dụ điển hình.

Một hành động tự vệ hữu hiệu nhất ở một xã hội độc tài đó là sự phản kháng bất hợp tác hay còn gọi là bất tuân dân sự. Khi mà luật của một cơ chế cầm quyền là để phục vụ đãng cầm quyền; khi cơ chế cầm quyền hoàn toàn vô trách nhiệm với xã hội, người dân; khi cơ chế cầm quyền kiểm soát mọi sinh hoạt của người dân; khi cơ chế cầm quyền đưa ra những bộ luật đi ngược lại hiến pháp hoặc đi ngược lại những quyền căn bản mà Con Người đã có từ thời nguyên thủy -- thì những con người sống trong cơ chế độc tài đó có quyền tự vệ bảo vệ bản thân và tài sản của mình. Cái quyền tự vệ này gồm có cả quyền bất tuân dân sự đối với những luật lệ mà đãng cầm quyền đưa ra. Quyền tự vệ này cũng có thể là sử dụng bạo động đối với một chính quyền hèn với giặc nhưng ác với dân. Vấn đề bạo động hay bất bạo động cần phải nhìn ở dạng rộng lớn, tùy vào hoàn cảnh để áp dụng bạo động hay bất bạo động. Lịch sử chứng minh có những lúc cần phải sử dụng bạo động để chấm dứt một cơ chế cầm quyền vô nhân, thất đức nếu phương pháp bất bạo động không hữu hiệu.

Quyền Vô Tội

Nhìn về lịch sử của loài người, Con Người luôn luôn sống hướng thượng. Sự hướng thượng này làm cho Con Người nhìn ra được Quyền Vô Tội phải cần phải có. Quyền vô tội là gì? Phải chăng một người giết người vẫn có cái quyền vô tội này?

Quyền vô tội có nghĩa là bất cứ cá nhân nào bị đưa ra trước tòa án thì luôn luôn được xác định là vô tội cho đến khi cơ quan điều tra chứng minh được là cá nhân đó vi phạm luật pháp. Vậy thì một cá nhân giết một cá nhân khác, trước tòa án, người bồi thẩm đoàn và thẩm phán đều luôn luôn mang tâm niệm là cá nhân đó vô tội cho đến khi những chứng cớ đưa ra trước tòa -- thì lúc đó mới kết luận là cá nhân đó có tội hay không có tội. Cùng là một hành động giết người, nhưng nếu sự giết người hay làm hại thân thể người khác nhằm mục đích tự vệ (như đã nói ở bên trên) thì hành động đó không hề vi phạm luật pháp. Đó là lý do tại sao, ở những quốc gia dân chủ, cá nhân nào thực hiện quyền tự vệ và chẳng may làm người khác thiệt mạng thì đây không phải là sự cố ý, cho nên cá nhân đó không hề bị đưa ra trước tòa án.

Đây chính là quyền căn bản của mỗi cá nhân được đưa ra trước tòa và những ai tham dự vào tòa án đều phải hiểu rõ điều này để tạo cho cuộc xử án công minh. Bất cứ bồi thẩm đoàn nào tham dự cuộc xử án mà chưa nghe rõ sự thật từ hai bên luật sư nhưng trong tâm kết luận là người đó có tội thì cuộc xử án không hề công minh. Đây là lý do tại sao trong cuộc tìm kiếm bồi thẩm đoàn, các luật sư của hai bên và gồm cả vị thẩm phán luôn luôn nhắc nhở mọi người về cái quyền vô tội của bị cáo để các bồi thẩm đoàn không có thành kiến trước khi vụ xử xảy ra (xem bài Lựa Chọn Bồi Thẩm Đoàn)

Nếu luật pháp cho mọi người được công nhận là vô tội trước khi được xử án thì đây là trường hợp tội trạng nằm ở vị thế không rõ ràng. Tuy nhiên, khi một cá nhân giết một cá nhân khác được ghi nhận qua hình ảnh và sự giết hại này là cố ý; hoặc một cá nhân khác nhận tiền hối lộ mà luật hối lộ cấm đoán, thế nhưng các cá nhân này không nhận lãnh trách nhiệm mà lợi dụng quyền vô tội để làm tốn tài lực, nhân lực trong cơ cấu tòa án thì cần phải có một bộ luật khác để tránh tình trạng lạm dụng quyền tự do này hay bất cứ quyền tự do khác mà luật pháp đã quy định. Chúng ta sẽ bàn thảo chuyện này trong Quyền Trách Nhiệm.

Vũ Hoàng Anh Bốn Phương

Tháng 12 năm 2023 (Việt lịch 4902)

Nguồn: https://nganlau.com/2024/03/15/nhan-ban-cuong-thuong-quyen-tu-ve-vo-toi/

 

 

Nhân Chủ - Dân Chủ - Dân Quyền

 

Ghi Chú NL: Bài viết ở phần cuối đã nhấn mạnh từ ngữ Nhân Chủ. Con người từ thời ăn lông ở lổ, mỗi người đã tự làm chủ lấy chính mình. Chính sự làm chủ đó, mỗi con người hợp lại để tạo ra từng nhóm, từng bộ tộc, bộ lạc, quốc gia để chọn người ra làm đại diện cho tập thể hầu thực hiện chuyện “thiết kế và chấp hành nhân sinh”. Người được tập thể chọn ra cùng với tập thể đó thực hiện mục tiêu “thiết kế và chấp hành nhân sinh”. Thời đại hiện nay, khái nhiệm Nhân Chủ chưa được triển khai rộng rãi mà người ta chỉ nắm phần ngọn của Dân Chủ, Dân Quyền mà không nắm phần gốc là Nhân Chủ. Khi mỗi cá nhân tự làm chủ lấy chính sinh mệnh của mình thì sẽ biết thực hiện Dân Chủ và Dân Quyền như thế nào để đáp ứng được mục tiêu “thiết kế và chấp hành nhân sinh”. Xin giới thiệu đến bạn đọc bài viết từ người trong nước đặt vấn đề Nhân Chủ là cái gốc, là nền tảng của Dân Chủ và Dân Quyền.

Chúng ta sẽ tìm hiểu các khái niệm để hiểu "quyền" và "làm chủ" khác nhau thế nào. Nói về khái niệm "làm chủ", thì nói đến "Nhân Chủ" sẽ chính xác hơn là "Dân Chủ". Chúng ta cần hiểu rõ và minh định lại, đây là quá trình cực kỳ khó khăn vì khái niệm vốn đã ăn sâu vào nhận thức con người và sự nhập nhằng trong khái niệm không rõ ràng làm cho sự vận hành ở phía nhà nước và người dân không được thực thi một cách hoàn chỉnh. Và khi nhà nước độc tài, lại càng xảy ra vấn đề.

Nhân Chủ (Humanocracy): Con người có các quyền cơ bản quy định dựa trên các đặc tính của con người, tồn tại và phát triển thông qua quá trình hòa hợp với đời sống tự nhiên và các mối ràng buộc xã hội. Con người làm chủ vận mạng chính mình, quyền đặc định thuộc về con người phải được đưa lên hàng đầu trong hệ thống vận hành xã hội. Đây là đặc định chung cho thế giới loài người.

Quyền công dân: Công dân trong một quốc gia, bởi vì có sự khác nhau về văn hóa, ngôn ngữ, phong tục tập quán và lãnh thổ nên mỗi quốc gia phải có hệ thống pháp luật để duy trì trật tự xã hội và phát triển đất nước. Hệ thống pháp luật này được viết ra dựa trên tôn chỉ bảo vệ tối đa quyền con người ở trên. Trong quá trình bầu ra cơ cấu nhà nước, công dân có quyền bầu cử chính danh. Trong hiến pháp, sẽ có các quy định về việc nhà nước hoạt động như thế nào, hiến pháp phải bảo vệ tối đa quyền con người như đã nói ở trên, nếu nhà nước không thực thi được như hiến pháp đề ra, thì công dân có quyền phế truất và bầu lại cơ cấu nhà nước mới, và điều này phải được ghi rõ vào hiến pháp. Ở đây hoàn toàn chưa nói đến thể chế chính trị đang vận hành là gì. Nếu thể chế là đa đảng, tam quyền phân lập thì công dân có quyền tham gia vào việc định ra hiến pháp, luật pháp, kiểm định sự độc lập hệ thống tư pháp. Tất cả các quá trình này, phải thông qua ý kiến công dân, đây là quyền công dân và chúng ta nên gọi nó chính xác là "Dân Quyền". Chưa kể, trong tương lai, chắc chắn sẽ có thể chế chính trị ưu việt hơn cả các mô hình chính trị như bây giờ, thì việc hiểu rõ các khái niệm là điều con người nên nắm bắt để bảo vệ cho chính bản thân mình. Sau khi bộ máy nhà nước được thành lập với hệ thống hiến pháp, luật pháp và tư pháp độc lập hoàn chỉnh thì cơ cấu bắt đầu vận hành, kể từ lúc này, tất cả mọi công dân trong đất nước và bao gồm cả công dân đơn lẻ hay tổ chức đang làm việc trong chính phủ phải tuân theo hiến pháp và pháp luật này. Sự tuân theo trật tự này là PHÁP QUYỀN. Và cơ quan tư pháp là cơ quan có chức năng phán xét và xử lý những công dân hay tổ chức vi phạm luật pháp bất kể đó là ai một cách công bằng và minh bạch.

Vậy thì minh định lại, nếu nói "Dân Chủ" thì không còn chính xác nữa. Khái niệm "Dân Chủ" rất bó hẹp, thường bị hiểu sai và làm sai, xảy ra ở cả hai phía nhà nước và công dân. Sẽ có các vấn đề xảy ra, về thực tế, không có nhà nước nào lại không muốn có quyền lực, sự mong muốn sở hữu quyền lực đó là mong muốn "làm chủ" công dân. Trái lại, công dân cũng mong muốn như vậy, vậy nên, cả nhà nước và công dân đều muốn làm chủ mà không hiểu được "quyền" và "làm chủ" khác nhau thế nào thì dễ xảy ra hỗn loạn xã hội. Nhà nước chỉ là THÀNH PHẦN ĐẠI DIỆN CHO CÔNG DÂN, và công dân sử dụng QUYỀN của mình để kiến thiết nên cơ cấu nhà nước và hệ thống pháp luật. Vậy thì, khái niệm"dân chủ" không chính xác nữa. "Dân Chủ" ở đây chỉ có thể nói về quyền sở hữu tài sản của công dân. Công dân làm chủ tài sản của mình bao gồm tài sản vật chất và trí tuệ. Có quyền sở hữu đất đai thực thụ chứ không phải là "quyền sử dụng đất". Đây là quyền làm chủ cơ bản của công dân. Chúng ta phải minh định, Nhân Chủ - Dân Chủ - Dân Quyền khác nhau như vậy.

Một xã hội văn minh là con người được làm chủ vận mạng của chính mình, sống trong một quốc gia, con người có quyền cùng nhau đề ra một cơ cấu nhà nước cùng với hệ thống pháp luật hoàn thiện để đảm bảo tối đa quyền con người của mình, đồng thời xã hội đó phải có một trật tự thực thi pháp luật chứ không phải hỗn độn. Nếu nhà nước đó không phải hoàn thành được chức trách của mình như đã ghi trong Hiến Pháp thì công dân có quyền bầu ra một cơ cấu nhà nước khác để đảm bảo quyền con người và quyền công dân được bảo vệ. Và quan trọng là con người phải được hoàn toàn tư hữu tài sản vật chất và phi vật chất thuộc về mình. Nếu tất cả những điều này được đảm bảo thực thi thì quốc gia sẽ phát triển, bình đẳng và văn minh. Người viết vẫn luôn đấu tranh cho Nhân Chủ chứ không đấu tranh cho Dân Chủ vì các lý do trên. Nhân Chủ đã bao hàm cả Dân Chủ và Dân Quyền. Nhân Chủ là khái niệm đưa con người lên vị trí cao nhất, con người là chủ thể cao nhất trong thế giới tự nhiên, có trí tuệ và sự nhận thức, làm chủ vận mạng của mình, đem sự nhận thức của mình hòa hợp với thế giới tự nhiên và phát triển xã hội.

Trong thời kỳ mà sự tàn phá con người về thể xác và tinh thần ở đỉnh điểm, thì Nhân Chủ là khái niệm mà con người cần biết và hiểu rõ, phải hiểu rằng, sinh mạng con người là cao quý nhất, và chủ thể này phải được bảo vệ bằng bất cứ giá nào. Những thế lực đang âm thầm đưa con người vào chỗ hủy diệt là đang làm trái lại với quy luật tự nhiên và sự vận hành của vũ trụ. Cái gì trái với tự nhiên sẽ dẫn đến diệt vong!

HUỲNH THỊ TỐ NGA

Nguồn: FB của cô Huỳnh Thị Tố Nga

Nguồn: https://nganlau.com/2024/03/07/nhan-chu-dan-chu-dan-quyen/

 

 

Toại Kỳ Sở Nhu

Cuộc sống ở Mỹ là sự lựa chọn và được các nhà chính trị quảng cáo sự lựa chọn đó. Từ sự lựa chọn đó đưa con người chọn cuộc sống vật chất thay vì biết thế nào gọi là đủ.

Toại Kỳ Sở Nhu được hiểu là biết đủ để không phí phạm bởi nếu phí phạm thì sẽ ảnh hưởng đến nhiều người và đến môi trường chúng ta đang sống. Khổ một điều là đa số sống trong xã hội không nhìn được thế nào gọi là đủ. Đơn giản là lòng tham hay sự ham muốn không có đáy, cho nên ai cũng muốn mà khả năng, tài năng, tài chính không có nhưng vẫn muốn để rồi tạo ra sự lừa gạt, ăn cắp để phục vụ cái muốn của bản thân.

Thế nào gọi là Toại Kỳ Sở Nhu và phải chăng điều này khó xảy ra với những người giàu có triệu phú hay tỷ phú?

Có thể nói rằng những người giàu có thường sống theo sự giàu có của chính mình. Nếu là triệu phú thì người ta sẽ nghĩ đến mua một căn nhà to hơn, rộng hơn cái căn nhà họ hiện có. Ăn uống cũng được nâng cấp với những món ăn đắt tiền. Đây là lối sống của người giàu, người có khả năng tài chính cho nên họ luôn luôn đòi hỏi những món ăn lạ, những căn nhà to, đẹp. Đây là cuộc sống để phục vụ dục vọng chứ không phải là toại kỳ sở nhu. Khi đã giàu có thì dục vọng cũng gia tăng theo sự giàu có đó.

Một số rất ít, đếm trên đầu ngón tay, tuy là triệu phú hay tỷ phú, họ vẫn chọn Toại Kỳ Sở Nhu chứ không sống theo dục vọng dù rằng họ có tiền để làm chuyện đó. Nhà tỷ phú Warren Buffett, triệu phú Geoffrey Holt, và Terry Kahn  là thí dụ điển hình của những cá nhân chọn cuộc sống Toại Kỳ Sở Nhu.

Ông Warren Buffett chưa là triệu phú khi ông mua căn nhà vào năm 1958 với giá tiền là 31,500 đô. Căn nhà của ông có 5 phòng ngủ và rộng 6570 sf. Khi ông thành triệu phú và tỷ phú thì ông vẫn ở căn nhà đó mà không mua một biệt thự rộng hơn như các nhà triệu phú và tỷ phú khác. Ngay cả thức ăn, ông chưa bao giờ mua thức ăn buổi sáng với giá trên 4 đô. Ăn sáng của ông thường ở tiệm McDonald. Năm 2020 ông vẫn xài điện thoại (flip phone) trị giá 20 đô và đó là năm đầu tiên ông đổi điện thoại đó qua Iphone.

Đối với ông Geoffrey Holt thì lại ở trong một môi trường hoàn toàn khác với ông Buffett. Ông Geoffrey sống và làm việc tại khu mobile home. Căn nhà mobile home của ông hoàn toàn không có bàn ghế, tivi, máy vi tính. Ngay cả cái giường ngủ của ông một chân giường thục xuống sàn của căn nhà mobile home. Cuộc sống của ông hoàn toàn không có xe dù rằng trước đó ông có chiếc xe đạp. Ông chọn cuộc sống đơn giản ở một thành phố Hinsdale, New Hampshire với dân số là 4 ngàn người. Khi ông qua đời trong tháng 6 năm 2023, thọ được 82 tuổi, thì một sự bất ngờ cho tất cả mọi người trong cái thành phố nhỏ bé đó. Tờ di chúc của ông để lại số tiền 3.8 triệu cho thành phố.

Tờ di chúc đó thực sự đã hình thành từ năm 2001, khi ông gặp tổ chức thiện nguyện New Hampshire Charitable Foundation để trình bày ý định sau khi ông chết, toàn bộ tài sản sẽ giao cho tổ chức thiện nguyện này để lo về những dự án y tế, văn hóa, giải trí cho những người sống tại thành phố Hinsdale. Lúc đó tổ chức thiện nguyện không biết số tiền là bao nhiêu mà chỉ biết ý định của ông giao lại số tài sản sau khi ông qua đời.

Ông Terry Kahn sống tại thành phố Indianapolis và làm việc cho cơ quan cựu chiến binh trong 30 năm. Ông là người rất cẩn thận trong việc chi phí cho những vật chất của đời sống bản thân. Ông có nhà và lái chiếc xe Honda cũ. Ông không có điện thoại di động vì ông cho rằng quá đắt và có lẽ ông không cần đến nó. Khi ông chết vào năm 2021, số tiền ông có là 13 triệu để cho những hội từ thiện theo tờ di chúc của ông.

Ba hình ảnh bên trên cho thấy ba cá nhân có tiền nhưng chọn cuộc sống Toại Kỳ Sở Nhu chứ không sống theo dục vọng mà đa số những người có tiền thường có. Dĩ nhiên chọn cuộc sống như thế không phải là dễ bởi đồng tiền làm con người biến chất. Sự biến chất đó do tâm lý của số đông là nếu đã có tiền thì tại sao phải sống như lúc không có tiền. Chính cái tâm lý này làm cho bản chất của con người biến dạng mà chính bản thân họ không biết.

Ở trường hợp của ông Holt xem ra quá đơn giản. Dĩ nhiên đó là sự lựa chọn của ông Holt bởi chính bản thân ông không thấy có nhu cầu đó và đồng tiền ông có, chính ông cũng không biết phải làm gì ngoài chuyện chuẩn bị cho cái chết để đồng tiền đó đóng góp hữu ích cho những người sống tại thành phố của ông.

Nếu nhìn vào cách sống và sử dụng tiền bạc ở ba con người giàu có này thì chúng ta thấy một điều, họ không sống theo đòi hỏi của vật chất. Ngay cả điện thoại di động, ông Holt và ông Kahn hoàn toàn không có vì cho rằng không cần thiết cho cuộc sống và quá đắt. Còn ông Buffets thì năm 2020 vẫn sử dụng loại điện thoại loại flip phone.

Biết thế nào gọi là Toại Kỳ Sở Nhu xem ra khó lắm bởi tâm lý con người luôn luôn muốn có thêm và từ cái muốn có (tham) đó làm cho con người không hiểu được Toại Kỳ Sở Nhu là gì.

Vũ Hoàng Anh Bốn Phương

Tháng 12 năm 2023 (Việt lịch 4902)

Nguồn: https://nganlau.com/2024/03/07/toai-ky-so-nhu/

 

  

Nhân Bản Cương Thường: Hôn Nhân & Kinh Doanh

Quyền tự do hôn nhân Hôn nhân là quyền của Con Người trong sự lựa chọn người phối mẫu của mình mà không phải là sự dàn sếp, sắp đặt của bố...