Thứ Sáu, 24 tháng 3, 2023

Đi Tìm Kinh Tế Nhân Bản (P5)

V. Các yếu tố dẫn đến Kinh Tế Nhân Bản

Để hiểu tại sao cần có Kinh Tế Nhân Bản, chúng ta phải nhìn vào các yếu tố:

(1) Xã hội là nơi con người tập trung để sinh hoạt và nương tựa lẫn nhau. Xã hội chịu chi phối bởi văn hóa là tiến trình phát triển của tôn giáo, giáo dục. Tập thể và cá nhân sống trong xã hội (quốc gia, bộ lạc) chịu ảnh hưởng của hai sinh hoạt kinh tế và chính trị. Tuy hai yếu tố này tương quan chặt chẽ với nhau nhưng con người chỉ có thể tham dự một trong hai.

(2) Kinh tế là yếu tố mưu sinh của loài người từ khi sống thành bộ lạc. Từ nhu cầu căn bản cho tới khi xã hội phát triển và lòng tham con người gia tăng thì kinh tế trở thành yếu tố gây xung đột trong xã hội. Khi tài nguyên thiên nhiên có giới hạn thì để giải quyết tranh chấp kinh tế phải có yếu tố chính trị: quyền lực. Kinh tế không thể dựa trên yếu tố "Cung-Cầu". "Cung" mà có trước thì phải có quảng cáo để con người biết đến mà tiêu thụ, tạo nên "Cầu". Còn nếu "nhu cầu" có trước thì "Cung" mới tồn tại. Nhưng giả sử "Cầu" vươn quá mức (lòng tham) thì "Cung" bao nhiêu cho đủ khi vật liệu có hạn?

(3) Chính trị lúc đầu chỉ là yếu tố điều hành sinh hoạt của tập thể. Khi xã hội loài người tiến đến giai đoạn quốc gia, quốc tế và sự xâm chiếm thuộc địa chấm dứt cho thấy tài nguyên thiên nhiên (trái đất) có giới hạn và con người tranh chấp qua chiến tranh chỉ đưa đến hủy diệt. Và chính trị phải đóng vai trò tìm cách giải quyết xung đột kinh tế cùng với sự đóng góp của các yếu tố phụ: tôn giáo, văn hóa, giáo dục, chủng tộc.... Trong khi đó con người trong cuộc sống chỉ có thể nắm một vài trò: làm kinh tế hay làm chính trị. Khi lòng tham còn ngự trị con người thì nguy cơ vẫn còn đó. Khi chính trị là thiết kế và điều hòa nhân sinh thì phải tìm ra phương thức ổn định đời sống loài người: có chỗ ăn, ở và sống trong hoà bình. Giàu có hay vũ khí hiện đại không đem lại bình an khi loài người vẫn bị đe dọa bởi thiên tai.

(4) Thiên nhiên: Tài nguyên thiên nhiên có giới hạn. Loài người đã cố gắng tăng gia số lượng thực phẩm, giảm sự phung phí, điều chỉnh sự phân phối nhưng chiến tranh, thiên tai, nạn đói, bệnh dịch vẫn là mối đe dọa sự sống con người.

VI. Trách nhiệm và bổn phận

1. Chính quyền

Để phát triển quốc gia nhà nước cần hệ thống giao thông, giáo dục, thông tin, điện nước... để trước hết là phân phối thực phẩm đến mọi người dân trên đất nước qua hệ thống tài chính, thương mại do tư nhân nắm giữ. Vì số đất canh tác có giới hạn, nhà nước cần phát triển kỹ nghệ để thu dụng nhân công.

Nhưng chính quyền không phải lúc nào cũng chí công vô tư khi bị chi phối bởi đảng chính trị. Vậy mỗi đảng có chính sách kinh tế như thế nào? Tạo cơ hội cho người dân tham dự chương trình kinh tế nhưng có duy trì được công bằng xã hội? Hay chỉ những ai có móc nối (hay biết luồn lọt) với chính quyền mới tham dự hay vượt lên trên chiếm lấy những lợi thế.... 

Trong nền kinh tế thị trường (Mỹ) chủ trương giới hạn chính quyền (small government) để người dân được nhiều tự do kinh doanh trên thị trường và như vậy mới phát triển kinh tế. Nhưng không thấy ai giải thích khi "tự do kinh doanh" thì "cá lớn nuốt cá bé": kẻ thua thiệt cần được giúp đỡ và đó là trách nhiệm của chính quyền. Chẳng may chính quyền bị hạn chế thì làm sao giúp dân? Khi các công ty cạnh tranh thì nói là có lợi cho người dân (giới tiêu thụ) nhưng nếu các công ty đồng loạt lên giá (công ty xăng dầu, thẻ tín dụng, hãng máy bay...) thì ai thiệt hại? Tuy vậy, một khi thiên tài lỡ vận (như các quyết định sai lầm của giám đốc điều hành) và vỡ nợ thì lại xin chính quyền cứu trợ (bail out) dưới danh nghĩa là duy trì công việc làm cho dân? Chính quyền hoạt động là nhờ thuế dân đóng nhưng giới chủ nhân, giám đốc, nhà đầu tư... luôn luôn tìm cách trốn thuế dưới nhiều hình thức để chính quyền phải vay nợ (ngân hàng, ngoại quốc).  Vậy hóa ra chính quyền nuôi (tạo ra, thiết lập...) kinh tế nhưng rồi kinh tế quay lại nắm đầu chính quyền (vận động, mua chuộc chính trị gia) và chế độ dân chủ trở thành chủ dân?

Câu hỏi đặt ra: các chính trị gia sẽ nhìn tương lai (vision) và giải quyết ra sao? Người dân sẽ phải chọn lựa như thế nào? Công thức giữa người dân và chính trị gia (chính quyền) có nhiệm vụ điều hành xã hội là duy trì công bằng xã hội (A-1).

Chừng nào người làm chính trị không còn phải tuyên thệ với thánh kinh (hay thượng đế) mà thề với bản thân "nếu không thực hiện những gì đã hứa khi tranh cử sẽ từ chức" thì may ra sinh hoạt chính trị mới có thay đổi thực sự.

a. Lợi tức căn bản được áp dụng tại một số thành phố tuy còn gặp nhiều chống đối nhưng nói lên được về mặt an sinh xã hội: nếu được bảo đảm về đời sống tối thiểu thì có thể giảm tệ nạn về vô gia cư, tội ác....

b. Lối sống căn bản (Sustainable lifestyle) đã được Liên Hiệp Quốc phổ biến như lối sống tiết kiệm năng lượng, bảo vệ môi sinh, sản xuất thực phẩm sạch....

2. Công ty (hãng, xưởng, tổ hợp, dịch vụ)

Bất cứ công ty, dịch vụ, hãng xưởng... đều cần có cơ sở và tiện nghi (điện, nước, rác, nhà vệ sinh, bãi đậu xe, đường giao thông …). Cuối cùng là nhân lực. Không có các điều kiện trên thì dù có là thiên tài với sáng kiến vĩ đại cũng không thể sản xuất, cung ứng được hàng hóa cho xã hội và dĩ nhiên không thể làm giàu.

Sự giàu có là do nhiều tầng lớp nhân sự đóng góp để tạo ra sản phẩm và được mọi người ưa chuộng cũng như các dịch vụ (chuyên chở, viễn thông, ngân hàng, văn phòng, luật pháp, kế toán, thuế vụ...) khác đóng góp vào sự thành công và làm giàu.

Lợi nhuận nhiều sẽ được phân chia như thế nào là còn tùy vốn và lương thợ đã được quy định bởi nhóm lãnh đạo công ty.

Có những nhà đầu tư hay tổ hợp đầu tư đã không ra mặt điều hành công ty mà mướn một giám đốc điều hành (CEO) dưới sự kiểm soát của hội đồng quản trị (Board of Directors) thường bị chi phối bởi người nắm đa số cổ phần của công ty. Các nhà kinh tế thường khoe khoang là chủ nghĩa tư bản cho phép người dân tham dự "làm giàu" bằng cách mua cổ phần (chứng khoán) công ty và như vậy cũng là chủ công ty chứ không phải là thành phần bị bóc lột như trước. Không thấy ai nói khi công ty yếu kém thì giám đốc điều hành "làm phép" sa thải nhân viên để "giảm chi" vì không có "tăng thu". Cuối năm công ty làm tổng kết sẽ vẫn là có lợi tức và như vậy là các cổ phần viên vui lòng vì có lời mà quên rằng nạn nhân là các nhân viên bị sa thải phải đi tìm việc khác, làm lại từ đầu và có thể mất nhà, gia đình ly tan nếu không tìm được việc khác kịp thời. Trong khi số nhân viên còn lại cắm đầu làm việc bằng 2, 3 để bù đắp công việc của những người bị sa thải mà không dám lên tiếng phản đối.

Vấn nạn ở chỗ phải làm giàu trước mới giúp người? Nhưng trong thời gian làm giàu thì giá phải trả của những người chờ được cứu sẽ như thế nào? Và trong khi tranh thắng trên thị trường thì nạn nhân là ai? Chủ nhân? Công nhân của những cơ sở yếu kém? Hay người tiêu thụ?

Giới chủ nhân (hay đầu tư) thường tự hào là họ phát triển kinh tế là xây dựng xã hội. Nhưng có thật là họ đặt lợi ích xã hội lên trên lợi ích cá nhân hay không? Điển hình là các công ty dầu khí, điện lực... khi kỹ nghệ năng lực mới (gió, mặt trời, thủy triều...) phát triển thì thế lực cũ tìm cách ngăn cản tuy rằng chính họ cũng đang đổi mới.

Nền kinh tế (công ty, hãng, xưởng...) đòi hỏi xã hội phải có trật tự (giao thông, điện nước, an ninh, luật pháp...) thì mới có sinh hoạt kinh tế nhưng nếu không có sự công bằng (A-2) thì xã hội sẽ hỗn loạn.

Như vậy giữa chính quyền và kinh tế là xã hội (A-1, A-2) phải công bằng nhưng ai chịu trách nhiệm nếu giới chính quyền và kinh tế không đồng thuận? Nếu người dân đi tìm chính trị gia và kinh tế gia thì đó sẽ là những con người như thế nào?

Đi Tìm Kinh Tế Nhân Bản (P6)

Trần Công Lân

Tháng 12 năm 2022 (Việt Lịch 4901)

Nguồn: https://nganlau.com/2023/03/15/di-tim-kinh-te-nhan-ban-p5/

 

 

 

Đi Tìm Kinh Tế Nhân Bản (P6)

3. Con người và khả năng

Người giàu thường cho rằng vì mình có thông minh, tài năng, sáng kiến, siêng năng... nên làm giàu và cho rằng người nghèo lười biếng, hoang phí.... Đó là một sự so sánh không chính xác khi dựa trên bản thân cá nhân: trí óc và thể xác.

Thuở hoang sơ thì kẻ khôn ngoan mượn danh nghĩa Thượng đế nhưng khi tôn giáo phai tàn thì họ nhân danh hiến pháp, tuyên ngôn độc lập, kêu gọi sự bình đẳng tuy rằng họ biết rằng con người có bề ngoài giống nhau nhưng có khả năng khác nhau. Họ biết rằng con người cần có xã hội và xã hội cần có lãnh đạo. Nắm lấy tâm lý con người, họ đã lũng đoạn xã hội để thủ lợi. Vì thế chúng ta thấy không có lãnh đạo nào nghèo cả và càng có nhiều "quốc gia" xuất hiện thì càng có nhiều "quốc gia thất bại" (failed states).

a. Trí óc

Con người sinh ra ai cũng có bộ óc. Không nói đến trường hợp bệnh tật bẩm sinh thì bộ óc giúp con người suy nghĩ. Nhưng không phải ai cũng suy nghĩ giống nhau. Điển hình là khi đi học, có người học giỏi, có người học dở. Nhưng giỏi hay dở thì cũng chưa quyết định sự thành công trong đời (giàu nghèo).

Học trung học, đại học xong cũng chưa xác định sự giàu nghèo khi vào đời kiếm ăn (công việc). Điều gì đã xảy ra trong suy nghĩ của từng cá nhân khi tiếp nhận kiến thức như nhau? Sự nhận thức và phát huy sáng kiến của mỗi người làm cho cá nhân đó trở nên độc đáo hơn người khác. Nhưng lợi điểm đó đã được dùng như thế nào để đóng góp cho xã hội mới là quan trọng.

Hãy nhìn lại lịch sử phát minh của loài người. Từ thời đại đồ đá, đồ đồng... những phát minh của con người để cải thiện đời sống đã không có sự đền bù của xã hội về quyền lợi nhưng vẫn giúp con người tiếp tục phát huy sáng kiến. Vì không có bản quyền (copyrights) nên những phát minh đó đã được phổ biến nhanh hơn. Cũng vì không có quyền lợi nên không có sự bắt chước giả tạo, cưỡng ép để thu lợi mà chỉ có những phát minh thực sự hữu dụng mới phổ biến. Những nhà phát minh thời xa xưa, họ nghĩ đến sự lợi ích của sản phẩm mà họ sẽ tạo ra để phục vụ xã hội chứ họ không nghĩ là họ có làm giàu với sản phẩm. Mục đích chính của họ là phát minh phục vụ xã hội trong khi đó mục đích chính của những nhà phát minh hiện giờ là để làm giàu (cho bản thân hay cho công ty).

Trí khôn của loài người tạo sự khác biệt giữa con người trong xã hội. Khi đời sống xã hội không còn bị khống chế bởi danh nghĩa Thiên tử hay Thượng đế thì nhản hiệu dân chủ ra đời nhưng con người không có Nhân Chủ (nhân bản, nhân cách) thì xã hội vẫn hỗn loạn vì con người vẫn còn tìm cách bóc lột, chén ép, kỳ thị nhau.

Nếu những "thiên tài" cho rằng mình là khôn ngoan thì hãy làm những gì ích lợi cho xã hội về cả vật chất lẫn tinh thần chứ không phải chỉ làm những gì mình thích, mình thấy mà bất kể tình trạng xã hội, văn hóa, đạo đức.... Nếu chỉ vì cậy mình khôn, giỏi để thống trị người khác thì cũng sẽ có kẻ cậy sức mạnh, tàn bạo để vươn lên thì có khác gì thế giới loài vật?

b. Lịch sử

b.1 Sự tranh chấp (hay cạnh tranh)

Lịch sử phát triển của loài người từ đời sống du mục (săn bắn) đến định cư (canh nông) rồi kỹ nghệ vì sự phát minh khoa học kỹ thuật. Con người học hỏi lẫn nhau, cải tiến đồ dùng để đem lại ích lợi cho đời sống. Tranh đua lợi nhuận dẫn đến (a) tranh chấp kinh tế và (b) chiến tranh. Có thể nào nhân loại chỉ đạt tới (a) mà không dẫn tới (b)?

b.2 Chi tiết

Hãy nhìn lại tình trạng xã hội loài người khi các nhà phát minh chưa được hưởng đặc quyền kinh tế cũng như trước khi các thế lực tư bản thành hình thì những thành quả có giá trị kinh tế được phổ biến trong xã hội không phân biệt giai cấp. Vì không có giới đầu tư, trung gian khai thác hay khuynh đảo thị trường (nhu cầu) nên không có lớp người bị bóc lột. Từ khi con người nghĩ ra cách lợi dụng thành quả kinh tế (thương mại, tài chính) để thủ lợi bằng cách đứng trung gian giữa người làm ra và giới tiêu thụ.

Nếu nói về sự phân công xã hội thì người trung gian cũng có phần (quyền lợi và trách nhiệm) nhưng không vì thể mà khuynh đảo xã hội (nạn chợ đen). Vì núp trong bóng tối, giới trung gian trở thành phù thủy lợi dụng kẽ hở của chính trị và kinh tế để thao túng xã hội. Hãy nhìn qua công nghệ chăn nuôi, các công ty lớn hiện giờ như Tyson không trực tiếp tham gia vào việc chăn nuôi mà giao cho các nhà chăn nuôi khác thực hiện. Trong tiến trình đó, công ty Tyson lợi dụng sức mạnh của mình để đòi hỏi các nhà chăn nuôi có hợp đồng với công ty Tyson bỏ tiền đạt những tiêu chuẩn mà công ty Tyson đưa ra trước khi họ gia hạn hợp đồng. Các nhà nuôi gà cho công ty Tyson không có sự lựa chọn bởi chẳng lẽ chuyển sang công ty khác mà các công ty khác cũng dùng cùng một hình thức như công ty Tyson, ép buộc người nuôi gà bỏ tiền để thực hiện theo đúng chủ trương của công ty đưa ra trước khi họ giao hợp đồng nuôi gà. Sự chèn ép giữa người nuôi gà, thành phần kinh tế cá nhân với công ty lớn, nhiều tiền, có luật sư thì phần trăm thiệt thòi là thành phần kinh tế cá nhân bởi sẽ không có tiền để thưa kiện; hoặc vì cuộc sống sẵn sàng chấp nhận hình thức bóc lột kiểu mới dưới cái gọi là kinh tế thị trường, kinh tế tự do, kinh tế tư bản. Đó chính là điểm mà Kinh Tế Nhân Bản muốn loại trừ bằng cách trong sạch hóa sinh hoạt xã hội.

Chúng ta đã chứng kiến nạn tham nhũng tàn phá các quốc gia nhược tiểu chỉ vì thiểu số muốn làm giàu bằng cách chiếm đoạt tài vật đáng lẽ được phân phối đến tầng lớp dân nghèo. Trong khi tại các quốc gia tân tiến thì giới đầu tư khai thác kẽ hở của luật pháp để bóc lột dân nghèo bằng cách chiếm hữu các phương tiện, nguồn sản xuất trong kinh tế  trong khi tránh né các trách nhiệm đóng góp xây dựng xã hội (thuế).

Nhiều chính quyền đã giảm thuế vì nghĩ là sẽ khuyến khích các nhà đầu tư (nhà giàu) kinh tế nhưng thực tế chỉ làm khoảng cách giàu nghèo ngày càng sai biệt (trường hợp các công ty, hãng ngoại quốc đầu tư tại các nước nghèo, khai thác nguyên liệu xong bỏ chạy để lại gánh nặng môi sinh).

Gần đây chủ nghĩa giới hạn (Limitism) đề nghị sự hưởng lợi (hay thu lợi) của giới chủ nhân hay lãnh đạo công ty phải được giới hạn ở một mức độ vừa phải, vẫn làm giàu nhưng không quá mức đến độ vô lý khi lương giám đốc tăng hàng trăm phần trăm trong khi lương nhân công không tăng hay tăng rất ít so với giá sinh hoạt.

Nhưng chủ nghĩa giới hạn đã chỉ chận đầu ngọn vấn đề mà không tìm gốc. Gốc của kinh tế, xã hội vẫn là con người.

Khi con người không được giáo dục đúng, một nền giáo dục Nhân Bản, để có con người hoàn thiện -- mà chỉ có nền giáo dục biến con người thành công cụ kinh tế để tiếp nối đời sống xã hội đang có -- mà không tìm hiểu là xã hội hiện hữu đang có những vấn đề cần phải cải tổ tận gốc vì đã đi sai lạc từ nhiều thế hệ mà những cố gắng thay đổi đã bị mua chuộc hay bị tiêu diệt.

Khi thế giới có những thành công về kinh tế mà vẫn còn những kêu gọi đóng góp về nhân quyền thì có nghĩa xã hội loài người vẫn còn những lệch lạc nghiêm trọng. Điển hình là vấn đề môi sinh.

Bạn nói vấn đề môi sinh là hậu quả của nước nghèo, người nghèo? Hay nước giàu, người giàu? Hay cả hai?

Nếu vậy thì ai trách nhiệm? Phải người thông minh, học giỏi hay người ngu?

Nếu một con tàu đang đi vào vùng giông bão nguy hiểm chết người thì người khôn trên tàu giành ăn với người ngu có ích lợi gì?

b.3 Phân phối lợi nhuận

Đã có người tranh cãi về sự phân chia tài sản như cái bánh (pizza): Tại sao không làm cho nó to lớn hơn?

Tuy lớn hơn nhưng giới giàu vẫn chiếm hữu 85-90% các đất đai, phương tiện sản xuất thì lớp nghèo vẫn chỉ là 10-15% của cái bánh tổng thể. Lý luận này chỉ là trò đánh lạc hướng của giới giàu để trốn trách nhiệm với xã hội.

Hãy trở về với bản chất, thực chất của con người: cơ thể có giới hạn với trí óc suy nghĩ vô hạn. Nếu vì khả năng suy nghĩ mà bạn hơn người thì đừng vì thế mà đòi hỏi sản vật nhiều hơn người trong khi bản thân bạn không dùng hết.

Nếu bạn đã từng sống qua nạn đói thì đã thấy con người có thể giết nhau chỉ vì miếng ăn (tầm thường chứ không phải cao quý). Vậy thì miếng ăn ngon có thể đưa đến chiến tranh giữa 2 nước (như Trung Hoa thời xưa đòi hỏi các nước phải triều cống phẩm vật ngon, quý, hiếm).

Xung đột trong xã hội xảy ra khi người giàu muốn bảo vệ sự giàu có bằng cách làm giàu hơn nữa. Trong khi kẻ nghèo tới mức độ cùng cực sẽ nổi loạn vì không còn gì để mất nữa. Đó là sự khác biệt tinh thần dẫn đến khác biệt vật chất bởi vì con người đã quan niệm sai lầm về sở hữu cho đến khi tài nguyên thế giới cạn kiệt và hậu quả của môi sinh đe dọa sự tồn vong của nhân loại.

Con người thiếu khả năng suy nghĩ đã là một hình phạt nặng nề cho bản thân của họ rồi, không nên trừng phạt họ thêm nữa chỉ vì bạn có khả năng suy nghĩ hơn họ. Hãy dùng trí khôn của bạn để giúp người yếu kém chứ không phải để bóc lột người khi bạn không thiếu ăn.

Đó là điều mà những nhà sáng lập tôn giáo đã nói và làm.

Khi những nhà lãnh đạo chính trị, tôn giáo đem những lời của đấng sáng lập ra răn dạy người dân thì câu hỏi đầu tiên phải là: "tại sao chính bản thân của người lãnh đạo không sống, thực hiện những gì đấng sáng lập đã làm"? Sự lập lại chỉ là sự lừa dối của giới lãnh đạo lưu manh.

Tuy vậy những lời dạy đó vẫn bị những kẻ đi sau bóp méo để làm những "nhà tiên tri giả" cũng chỉ vì mục đích kinh tế: làm giàu.

Ý tưởng làm giàu phát xuất từ khi con người chưa nhìn thấy toàn bộ thế giới môi sinh. Chỉ vì lo sợ chiến tranh, thiên tai, nạn đói… nên con người muốn giàu có để bảo đảm đời sống khi chưa có thông tin toàn cầu như hiện nay. Vậy nếu an sinh xã hội được bảo đảm thì con người có từ bỏ sự làm giàu hay không?

Lịch sử loài người là tiến hóa chứ không phải hủy diệt. Hai lần thế chiến có đủ để con người thức tỉnh về quyền lực chính trị và kinh tế mà quên đi vấn nạn xã hội: con người.

Nếu con người kết thành xã hội (quốc gia) để xâm chiếm, gây chiến (vì chính trị hay kinh tế) và hủy diệt xã hội thì chắc chắn đó không phải là mục đích của con người.

Trần Công Lân

Tháng 12 năm 2022 (Việt Lịch 4901)

Nguồn: https://nganlau.com/2023/03/15/di-tim-kinh-te-nhan-ban-p6/

 

 

 

Đi Tìm Kinh Tế Nhân Bản (P7)

VI. Yếu tố chi phối sinh hoạt kinh tế và chính trị

Triết gia là người suy nghĩ xa xôi, đôi khi không thực tế vì triết gia không phải người hành động. Chính trị gia là người nói và phải hành động nhưng nhiều khi lời nói và hành động không đi đôi với nhau.

Nếu nói là tư tưởng thì ai cũng có nhưng tư tưởng cách mạng thì không dễ có. Và không phải bất cứ nhà chính trị nào cũng có thể nắm tư tưởng cách mạng. Khi tư tưởng của người thường chỉ là Thiện-Ác thì tư tưởng cách mạng phức tạp hơn nhiều. Thường thì người nghĩ ra được thì cũng đã hết cuộc đời và người đời sau có muốn nắm bắt cũng phải trải qua một số điều kiện của Thời-Không. Những ai đưa chủ trương đi sống phải là "Chân-Thiện-Mỹ" là một sự lường gạt khéo léo. (xem bài Chân Thiện Mỹ hay Chân Thiện Nhẫn). Vì yếu tố "Mỹ" là sự lừa dối con người. Cái Đẹp có thực sự cứu chuộc loài người hay đưa loài người vào sự tranh chấp bất tận?

Nếu nói về tư tưởng để lãnh đạo thì chính trị gia phải nhìn xa, trông rộng để nói cho dân biết hướng đi tương lai. Còn nếu nhà chính trị được chọn để dân muốn gì thì chiều ý dân và gọi đó là "dân chủ" thì đó là mỵ dân vì dân chỉ muốn cơm no, áo ấm (an cư lạc nghiệp) mà chờ mãi không có nên mới đòi hỏi, đấu tranh. Trong khi các nhà chính trị không có tư tưởng, kế hoạch -- chỉ chạy theo mùa tranh cử, vuốt ve ý muốn của dân để cầm quyền. Một khi gọi là "dân chủ" mà dân cứ phải đấu tranh thì đó là dấu hiệu của một chế độ sai lầm về lãnh đạo.

Một dấu hiệu thất bại của hệ thống (chính sách và cơ chế) chính trị hiện thời là giáo dục. Các nước Tây phương vẫn tiếp tục các chương trình huấn luyện, đào tạo các tầng lớp lãnh đạo (leadership) nhưng chỉ là loại lãnh đạo tiếp tục những gì đã có. Sự cải thiện bên ngoài không thay đổi được những cơ cấu nền tảng sai lầm từ hiến pháp quốc gia cho đến hiến chương Liên Hiệp Quốc mà mới đây tổng thống Zelensky (Ukraine) đã cho rằng Liên Hiệp Quốc là vô dụng.

a. Tài năng

Một lý do bào chữa của giới tư bản tài phiệt là các giám đốc điều hành (CEO) có tài năng hiếm nên phải được trả lương cao (gấp trăm lần nhân viên, hoặc một năm lương bằng mấy đời lương của một cá nhân suốt cuộc đời của họ). Ở đây chúng ta phải phân biệt tài năng (skills) và sáng kiến (inventions). Tài năng có nhiều loại. Có loại bạn có thể tự thực hiện, có loại phải có người cộng tác. Tài năng không phải độc nhất mà có thể những người khác có suy nghĩ, kiến thức, khéo léo... nếu đặt vào vị trí đó cũng có thể thực hiện được. Trong khi sáng kiến thì khó hơn vì tùy người. Có người nghĩ ra ngay, có người nghĩ hoài cũng không ra gì. Vậy tài năng, sáng kiến là để đóng góp cho xã hội vì nếu không có xã hội thì tài năng và sáng kiến đó sẽ đi về đâu?

Vậy đâu là trách nhiệm của người có tài năng, sáng kiến?

Nếu thành công thì được thưởng. Nhưng nếu hậu quả về lâu dài hóa ra gây hại cho xã hội thì sao? Không ai cấm làm giàu bằng đồng lương do chính sức lực bỏ ra. Nhưng cho dù có tài năng, sự thành công của tài năng đó vẫn lệ thuộc vào những người khác trong toàn bộ công ty. Cho nên khi đồng lương được trả trong thời gian một năm mà bằng đồng lương của mấy đời người tạo ra trong suốt cuộc đời của họ thì đã giành phần của người khác bằng cách cắt (hay không tăng lương) lương người khác hoặc giá cả của sản phẩm được tăng lên để bồi đp cho đồng lương quá to lớn của một giám đốc.

Điều kiện này đưa đến tâm lý bảo thủ (Conservative) và tiến bộ (Liberal, Progressive) như xã hội Mỹ hiện nay.

b. Nên hay không Nên (to Be or not to Be)?

Bảo thủ: là khuynh hướng duy trì tình trạng đã có vì nếu (vật, cơ chế, sự kiện...) đang tốt đẹp, hay vận hành trôi chảy thì tại sao phải thay đổi? Nhất là khi sự thay đổi không bảo đảm trật tự, an toàn cho con người, xã hội.... Giả sử mục đích cuộc sống là mưu cầu hạnh phúc (vật chất, tinh thần) và những người bảo thủ đã có "hạnh phúc" và không muốn thay đổi. Nhưng xã hội "hạnh phúc" đó vẫn bị thay đổi vì thiên nhiên (thiên tai) hay con người phát triển về văn hóa, chính trị, tôn giáo, kinh tế (khi các quốc gia khác có thay đổi). Làm sao một xã hội (quốc gia) giàu có, thịnh vượng có thể giúp các khu vực nghèo khó hơn có được "hạnh phúc" thì sẽ tránh được chiến tranh, di dân... đưa đến sự mất "hạnh phúc" đã có?

Tiến bộ: là khuynh hướng tiến lên, tìm cái mới, khai phá, mạo hiểm vì trí tò mò là bản chất con người. Con người hơn loài vật là ở chỗ có suy nghĩ tìm tòi, thí nghiệm nên xã hội con người mới được như ngày nay. Sự chấp nhận hy sinh bản thân để đem lại lợi ích chung cũng là cách bảo vệ xã hội tồn tại trước thiên nhiên, bệnh tật. "Thời gian với tiến hóa là đối lập thống nhất"(xem bài đối lập chính trị). Con người từ ngàn xưa đã quan sát thiên nhiên để tìm cách phát triển đời sống tốt đẹp hơn. Ngăn chận sự thay đổi từ con người là hủy diệt văn hóa, tư tưởng phát xuất từ bộ óc con người đã khiến loài người khác loài vật.

c . Tương quan kinh tế và chính trị

Chính trị có cân bằng (yên ổn) thì kinh tế mới phát triển và ngược lại. Quan niệm về dân chủ, tự do, độc lập, hạnh phúc... là yếu tố "cần" nhưng kinh tế có đem lại no ấm cho người dân hay không thì đó mới là yếu t "đủ". Và để đi từ "cần" tới "đủ" thì phải có công bằng xã hội trong kinh tế cũng như chính trị. Đó là điều mà nền Kinh Tế Nhân Bản phải thực hiện công thức đó. Như vậy quan điểm chính trị đặt cân bằng trên "bảo thủ" và "tiến bộ" là sai lầm mà chỉ có những nhà chính trị mỵ dân mới sử dụng để đánh lạc hướng sinh hoạt dân chủ.

Nhưng chủ trương đó không thể là của đảng chính trị để dụ dân chúng, dẫn đến xung đột qua lập luận nếu không ủng hộ "bảo thủ" tức là theo "tiến bộ" hay ngược lại. Các chính trị gia đã bóp méo sinh hoạt chính trị qua ý nghĩa đối lập. Đối lập khác đường lối thực hiện nhưng cùng mục đích. Đối lập không thể là triệt hạ đối phương để duy trì sự độc tôn (my way or highway). Sinh hoạt dân chủ giữa đa số và thiểu số là tranh luận về đường lối thực hiện chứ không phải thiểu số chống đối mà không đưa ra giải pháp hay đa số cứ làm tới mà không cho phe thiểu số có cơ hội lên tiếng tranh luận.

Hãy trở lại thuở ban đầu của xã hội loài người: Chọn lãnh đạo trong một gia tộc, làng, bộ lạc là yếu tố chính trị hay kinh tế? Phải chăng nếu không có lãnh đạo (chính trị) thì con người vẫn phải kiếm ăn (kinh tế) hàng ngày.

Như vậy cho dù chưa đạt được tiến bộ về kinh tế thì mọi người phải có sự đồng thuận về sự chọn lựa người lãnh đạo (yếu tố chính trị). Cho dù ai đó biện luận kinh tế là yếu tố chính thì cũng chẳng có ai trong xã hội có thể ăn nhiều hơn người khác (hay không ăn mà chiếm tài vật nhiều). Khi một cá nhân sở hữu thặng dư quá to lớn là đầu mối của tranh chấp xã hội.

Trần Công Lân

Tháng 12 năm 2022 (Việt Lịch 4901)

Nguồn: https://nganlau.com/2023/03/24/di-tim-kinh-te-nhan-ban-p7/

 

 

 

Đi Tìm Kinh Tế Nhân Bản (P8)

VII. Kinh tế hướng dẫn chính trị hay chính trị hướng dẫn kinh tế?

Chính sách của đảng chính trị xây dựng xã hội, thăng tiến nhân tài để đóng góp cho xã hội. Và nhân tài không phải là kẻ nói láo để được việc. Cũng như việc tranh luận để giải quyết các vấn nạn của xã hội phải dựa trên nhân bản, nhân tính, nhân sinh chứ không phải thuần túy là quyền lợi kinh tế.

Vì đâu có chủ trương mỗi năm chỉ số kinh tế phải tăng (cái bánh lớn hơn) nhưng sự phân chia có đồng đều không?

Nếu tăng rất ít (hay không tăng) nhưng sinh hoạt xã hội điều hòa thì đó là thất bại hay thành công?

Nếu tăng mà chỉ có thiểu số hưởng lợi mà đa số vẫn chật vật với đời sống thì đó là thất bại hay thành công?

Khi các nhà chính trị mượn yếu tố kinh tế (GDP, việc làm, lợi tức...) để củng cố địa vị thì các nhà kinh tế cũng đã mượn những yếu tố này để áp lực các nhà chính trị. Hậu quả là sự tranh cãi về môi sinh, khí hậu, thiên tai, nạn đói dẫn đến rối loạn xã hội, chính trị và khi chính quyền thất bại thì kinh tế sẽ không tồn tại.

Làm sao thay đổi suy nghĩ của các nhà chính trị, kinh tế khi quá khứ đã đè nặng lên suy nghĩ của họ qua bao nhiêu năm tháng?

VIII. Đi tìm Lối thoát

Kinh Tế Nhân Bản chỉ là mục đích tìm tới một cuộc sống hạnh phúc trong xã hội loài người. Nhưng hiện nay, kinh tế thị trường đang thống trị thế giới: các nước nghèo (đang phát triển) muốn vươn lên. Các nước giàu không muốn mất vị thế đang có hoặc là muốn nhưng tài nguyên thiên nhiên có giới hạn. Hơn nữa, các nhà tư bản quốc tế không muốn mất những gì đang có mà còn muốn nhiều hơn. Vậy đâu là lối thoát? E S G tưởng chừng như tư bản đang đổi mới nhưng có thực tâm hay chỉ là "thay đổi" để tiếp tục tồn tại khi khí hậu, môi sinh thay đổi và vẫn vượt lên trên các quốc gia nghèo khó? Thế giới hiện nay không thể thay đổi nếu các tổ chức tài phiệt vẫn muốn bóc lột con người và thiên nhiên. Sự kiện đó được phát triển  khi giới lãnh đạo đánh mất sự cân bằng giữa con người, xã hội và thiên nhiên qua nhiều thế hệ. Tất cả (kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa...) phát sinh từ con người. Đó là gốc. Tìm về cái gốc mới giải quyết được tận gốc của vấn đề. Đó là điều các nhà sáng lập tôn giáo đã làm từ ngàn năm trước nhưng con người vẫn không thực hiện được.

Giáo dục là sự học hỏi từ những người đi trước truyền lại cho kẻ đi sau. Đó cũng là kiến thức của con người tự mình tìm hiểu, thí nghiệm, nghiên cứu dẫn đến cái gọi là khoa học sau này. Khi có những cá nhân siêu việt có tầm nhìn, kiến thức sâu xa, có tư tưởng uyên thâm muốn truyền lại người khác thì được gọi là tôn giáo, tư tưởng, triết học hay lịch sử.

Nếu cả một khối xã hội, kinh tế, chính trị của người đi trước sa lầy thì kẻ đi sau phải tìm lối thoát gọi là cách mạng qua đường lối giáo dục vượt lên trên những sai lầm của hệ thống cũ.

Điều trước tiên là cá nhân phải tự giáo dục bản thân để thoát khỏi những ràng buộc của hệ thống cũ. Có thể gọi là Cách Mạng Gốc (phát xuất từ chính bản thân, thay đổi cách suy nghĩ, cách sống ở chính bản thân trước khi đem cuộc cách mạng đó vào quần chúng)

Câu hỏi đầu tiên của con người: tôi là ai?

Bạn không thể trả lời khi bạn chưa biết gì về cái Tôi. Cái Tôi từ đâu tới?

Bạn không thể tự quyết định có nên sinh ra đời hay không? Tại quốc gia này hay quốc gia khác? Tại gia đình này hay gia đình khác? Vào giờ này hay giờ khác? Vì đó là do cha mẹ bạn đã thực hiện. Từ khi sinh ra cho tới khi bạn (đứa trẻ) ý thức về một bản ngã thực tại có suy nghĩ và hành động độc lập với người xung quanh. Vậy câu hỏi kế đến sẽ là sống để làm gì?

Thật khó mà trả lời khi bạn chưa sống đủ để biết sống như thế nào. Vậy đổi lại thành "bạn muốn gì trong đời sống"?

Câu trả lời (đa số) khó nhất sẽ là "hạnh phúc". Vậy "hạnh phúc" đó sẽ như thế nào?

Bỏ qua những ước mơ của tôn giáo vì mỗi tôn giáo sẽ có tiêu chuẩn khác nhau. Nhưng không phải cá nhân nào cũng đủ khả năng vượt qua tôn giáo. Hoặc vì yếu tinh thần hay thiếu kiến thức, vẫn còn có người cần dựa vào tôn giáo để hướng dẫn trong đời sống hàng ngày và như vậy vẫn còn kẻ lợi dụng tôn giáo để bóc lột người khác.

Vậy khi khoa học tiến bộ thì sự tin tưởng nơi tôn giáo sẽ lui dần và con người tự tin nơi bản thân hơn là dựa vào thần quyền. Với trình độ hiểu biết về tinh thần và vật chất cao hơn thì con người sẽ có quan điểm gì về đời sống, hạnh phúc?

Hình ảnh một niết bàn hay thiên đường không còn xa vời mà ngay hiện tại: đời sống, cư xử với người và hoàn cảnh xung quanh. Bản thân bạn làm xấu thì xung quanh sẽ xấu và đó là địa ngục. Nếu bạn làm tốt thì xung quanh sẽ tốt và đó là thiên đường.

Khi con người ý thức về chính trị trong đời sống xã hội qua hiến pháp thì những nguyên tắc căn bản để xây dựng xã hội sẽ đồng nhất (xem "con người và chính trị") để đi từ "tự kỷ-ỷ tha-động tha" đến "tận kỳ sở năng, toại kỳ sở nhu, chính kỳ sở mệnh" để tạo một cương thường cho xã hội và từ đó thiết lập Cơ Năng Hiến Pháp, xây dựng Kinh Tế Nhân Bản. Đó là con đường giải quyết mọi tranh chấp chính trị và xã hội cho thế hệ tương lai.

IV. Kết luận

Để giải quyết các vấn đề của con người và xã hội thì vẫn phải khởi đi từ cá nhân. Tinh thần và vật chất của cá nhân sẽ quyết định hướng đi và sự phát triển của cá thể đó. Khi cá nhân gia nhập tập thể để sống chung trong quy định của xã ước hay hiến pháp thì phải trực tiếp hay gián tiếp tham gia vào việc thiết kế và chấp hành nhân sinh. Khi loài người đi đến trật tự thế giới chung để thấy rằng tài nguyên có giới hạn và khí hậu, môi sinh ảnh hưởng đến sự sống còn của loài người thì tất nhiên phải nghĩ đến một hình ảnh cùng nhau sống trong mức độ vừa phải để tránh tình trạng giết nhau mà sống. Đó là mục đích của Kinh Tế Nhân Bản.

Trần Công Lân

Tháng 12 năm 2022 (Việt Lịch 4901)

Nguồn: https://nganlau.com/2023/03/24/di-tim-kinh-te-nhan-ban-p8/

 

 

Thứ Sáu, 24 tháng 2, 2023

Tu Dưỡng Thắng Nhân: Địa Vị Xã Hội

Một nước Việt tương lai cần có những con người thay đổi cái nhìn về địa vị xã hội.

Thông thường chúng ta đánh giá con người qua địa vị xã hội và đây là một sai lầm trong cuộc sống. Địa vị của cá nhân trong xã hội, hoặc quá khứ của cá nhân đó hoàn toàn không nói lên được con người hiện tại của cá nhân đó ra sao.

Địa vị xã hội thường hay dễ thấy qua chức vụ nghề nghiệp hay qua sự giàu có của cá nhân đó. Một người giữ chức vụ bộ trưởng hay một người giàu có nổi tiếng, nếu cả hai đều tận lực góp sức giúp xã hội cùng tiến lên thì sẽ được nhiều người biết đến và ngưỡng mộ. Nhưng một người khác, bác nông dân chẳng hạn, cũng tận lực góp sức trong việc xây dựng xã hội và thành quả không thua gì anh bộ trưởng hay người giàu có thì có mấy ai biết đến.

Cũng với thí dụ bên trên, nếu anh bộ trưởng lợi dụng vị thế cầm quyền của mình, ngoài việc giúp xã hội anh ta tìm cách thủ lợi về tài chính bằng cách những hợp đồng của chính phủ cho đề án nào đó, anh ta tìm cách đưa cho người thân trong gia đình mình lấy những hợp đồng đó hầu tạo quyền lợi tài chính cho bản thân và gia đình. Nếu anh giàu có, bóc lột (hoặc lợi dụng) những người tiêu thụ để tạo ra sự giàu có cho mình và anh ta bỏ một số tiền to lớn để giúp xã hội như xây dựng một cơ sở trường học để tạo tiếng tốt cho mình. Hành động của hai người trên có hai kết quả khác nhau (vừa làm tốt nhưng vừa làm xấu để giàu có) cần phải đánh giá ra sao nếu chỉ nhìn qua mặt bề ngoài của địa vị xã hội?

Thói thường của con người, không cần biết thuộc giống dân nào, đều đánh giá con người qua địa vị xã hội. Rất ít người nhìn con người vào việc làm, lời nói, cách ứng xử với người khác trong xã hội và cái kết quả của ứng xử đó ra sao.

Hãy nhìn qua quan niệm ứng xử của nhân viên hãng máy bay Southwest. Chủ nhân hãng máy bay Southwest, ông Herbert Kelleher, nói “chức vụ và chức danh không mang ý nghĩa gì. Những thứ đó chỉ là đồ trang điểm. Nó không nói lên được bản chất của bất cứ cá nhân nào. Tất cả mọi người, tất cả mọi công việc đều có giá trị như bất cứ người nào hay công việc nào”. Nhân viên lo việc sắp xếp người vào máy bay nói “dù bạn có bằng đại học hay chỉ là chứng chỉ trung học chẳng có gì khác biệt. Công ty Southwest không xem địa vị quan trọng mà là bạn làm việc có hiệu quả và tích cực hay không. Không ai xem công việc của người khác là điều hiển nhiên. Người lấy hành lý của khách hàng đưa vào máy bay cũng quan trọng như người phi công”.

Những câu nói trên cho thấy hãng máy bay Southwest, từ người chủ nhân cho đến nhân viên, đánh giá con người qua việc làm chứ không qua chức vụ, địa vị trong xã hội. Điều này ít xảy ra ở những công ty khác mà họ luôn xem trọng những người có địa vị, chức vụ cao và xem thường những người không có chức vụ trong công ty.

Trong cộng đồng người Việt tại hải ngoại cũng như trong nước, những người sinh hoạt trong cộng đồng, những người đã từng là tù nhân lương tâm thường hay được đánh giá qua quá khứ, chức vụ trong cộng đồng, hoặc những việc làm mang tính chất bất vụ lợi nhưng ít ai thắc mắc về hiệu quả của những công việc đó ra sao hoặc nhân cách ứng xử của những người đó ra sao.

Có một ít cựu tù nhân lương tâm, trong quá khứ họ đấu tranh dân chủ cho Việt Nam để bị đi tù. Đây là hình ảnh đẹp của quá khứ. Nhưng hình ảnh này không nói lên được bản chất hiện tại của họ ra sao khi chính những người này sẵn sàng tung tin giả, nói những điều không có thật thì cái quá khứ đó sẽ không có giá trị gì ở hiện tại khi chính bản thân họ tung tin giả cho rằng bầu cử năm 2020 tại Mỹ là có gian lận mà không cần biết có chứng cớ hay không chứng cớ. Đây là lối ứng xử chụp mũ (nói những điều không có, không đúng sự thật) như lối ứng xử của người cộng sản. Đấu tranh chống cộng sản mà dùng phương pháp giống cộng sản thì phải chăng cần phải đánh giá lại về những con người đấu tranh trên?

Cái lối suy nghĩ để đánh giá về một Con Người của người Việt từ lâu thường hay dựa vào địa vị xã hội, sự giàu có, bằng cấp, hay quá khứ đấu tranh cần phải thay đổi và loại bỏ lối suy nghĩ cũ, hoàn toàn sai lầm. Tất cả những thứ trên hoàn toàn không nói lên được nhân cách, tư cách con người hiện tại của cá nhân đó.

Sự khác biệt giữa hai cá nhân A và B không phải ở cái địa vị xã hội hay quá khứ làm việc mà là ở nhân cách và tư cách hiện tại của chính bản thân của mỗi người. Đấy chính là thước đo để đánh giá mỗi con người trong đời sống xã hội trong cái thời điểm hiện tại.

Vũ Hoàng Anh Bốn Phương

Tháng 9 năm 2022 (Việt lịch 4901)

Nguồn: https://nganlau.com/2023/02/24/tu-duong-thang-nhan-dia-vi-xa-hoi/

 

Kiến Thiết Dưới Góc Nhìn Của Lý Đông A (P1)

Trong Chu Tri Lục 5 cụ Lý nói về sự Kiến Thiết và được chia ra làm 9 phần: Nhu Yếu Của Kiến Thiết, Bối Cảnh Của Kiến Thiết, Nền Tảng Của Kiến Thiết, Phương Châm Của Kiến Thiết, Triển Khai Của Kiến Thiết, Nguyên Tắc Của Kiến Thiết, Biện Chứng Của Kiến Thiết, Đấu Tranh Của Kiến Thiết, và Đạo Đức Của Kiến Thiết. (*)

Chúng ta sẽ cùng nhau tìm hiểu về từng phần một mà cụ Lý nhắc đến để đem so sách với lịch sử và rút ra bài học cho tương lai.

Nhu Cầu Của Kiến Thiết

Tất cả những thảm thương mà quốc dân ta đang phải chịu đựng, xui nên bởi những cái bất hợp lý của thống trị thực dân với những cái đồi bại của văn hóa cũ, sản sinh nên tất yếu cuộc cách mạng Duy Dân tiêu diệt xâm lược, phá đổ chế độ áp bức trong với ngoài để thành lập một đời sống quốc dân mới, trên một nền tảng văn minh mới. Cho nên kiến thiết là mục đích tích cực của cách mạng. Kiến thiết thành công là chân chính cách mạng thành công. Mà kiến thiết thành công là văn hóa thành công, Thái Bình thành công. Cách mạng ở đó chỉ là giai đoạn quá độ của kiến thiết, cũng như phá hoại chỉ là công cụ lâm thời của kiến thiết. Có cách mạng và phá hoại mới có y cứ mà kiến thiết được. Nhưng mà kiến thiết thất bại còn quan hệ hơn là cách mạng thất bại: nó là lịch sử thất bại, Thái Bình thất bại. 

Sách lược cách mạng của chúng ta cho chúng ta hay rằng: 

Lực lượng chúng ta đem vào cách mạng thuần túy và tuyệt đối phá hoại chỉ phải nhu yếu có chừng, mà lực lượng chúng ta dành vào kiến thiết mới là vô hạn. Chúng ta phải bả ác thực tế cho được thành công tất nhiên. 

Cái lo lắng lớn của chúng ta ở đó, cho nên cả những công việc làm để hoàn thành cái trục chuyển dời sang kiến thiết, đáng được chúng ta gắng sức vào, cũng như công việc chuẩn bị cho từ tĩnh viên vào động viên, công việc chuẩn bị để xúc tiến và hạn định được cái cực hạn tuyến của phá hoại, kiến thiết bả ác một điều kiện thành công ở đó” (LĐA)

Thời điểm của cụ Lý, đất nước ta đang bị sự đô hộ của thực dân Pháp. Thời điểm hôm nay chúng ta đang bị đô hộ bởi Trung Quốc mà các thái thú thời đại là đãng csvn. Sự tàn bạo của đãng (cố ý viết sai dấu cho đúng bản chất) csvn đối với dân tộc đến hôm nay ai cũng nhìn rõ ngoại trừ chính những người trong đãng csvn (họ cũng nhìn thấy như họ dùng biện luận cho sự tàn bạo này). Ngay cả đối với thế giới, đãng csvn không tuân thủ theo luật lệ và vẫn xử dụng luật rừng để bắt Trịnh Xuân Thanh ngay trên lãnh thổ của Đức, xem thường luật lệ của quốc gia mà nhà cầm quyền VN chỉ là khách.

Đãng csvn “thành công” trong cách mạng nhưng đã thất bại trên mặt kiến thiết. Đừng đem cái thời điểm 1975, 1980 để so sánh với thời điểm hôm nay và cho rằng là đãng csvn thành công trong vấn đề tạo ra cái ăn, cái mặc cho người dân. Cái ăn, cái mặc đó chỉ là bề ngoài trong khi thực tế VN nợ thế giới rất nhiều và những món nợ này sẽ do chính người Việt phải trả, cho dù sau này có sáp nhập vào Tàu.

Tuy nhiên chuyện sáp nhập vào Tàu này có thể xảy ra hoặc có thể không xảy ra nếu toàn dân tộc Việt nhìn được vấn đề là các thái thú thời đại của Tàu đang hành hạ dân tộc Việt. Nếu nhìn ra được vấn đề này, thời gian sẽ chuyển sức mạnh của dân tộc thành một Hội Nghị Diên Hồng để đánh đuổi các thái thú thời đại về Tàu trong thế kỷ 21 này.

Nếu cho rằng cuộc Cách Mạng cứu nòi giống Việt hôm nay rất là khó khăn thì công việc Kiến Thiết nước Việt sau khi thoát Cộng và thoát Tàu khó trăm ngàn lần cuộc Cách Mạng cứu nòi giống. Nếu cuộc cách mạng thành công nhưng cuộc kiến thiết thất bại thì chính cuộc cách mạng đã thất bại.

Cần phải nhận định rõ là Cách Mạng chỉ là giai đoạn quá độ của Kiến Thiết. Tức là trong cách mạng (phá bỏ cái cũ) tức là đã Kiến Thiết. Tuy nhiên cái phá hoại này chỉ là công cụ tạm thời mà sau khi cách mạng thành công, công việc phá hoại phải được nhìn lại (cái gì cần bỏ, cái gì cần giữ lại) để thực hiện kiến thiết. Lịch sử chứng minh sau khi csvn đánh chiếm miền Nam, thay vì ngưng ngay sự phá hoại thì họ tiếp tục phá hoại nền kinh tế, nền văn hóa vốn có của miền Nam, mà những cái này hoàn toàn tiến bộ gấp mấy lần miền Bắc vào thời điểm đó. Thay vì giữ nền kinh tế miền Nam, văn hóa miền Nam thì người cộng sản phá toàn bộ, để kéo nền kinh tế và văn hóa miền Nam xuống bằng nền kinh tế và văn hóa miền Bắc lúc bấy giờ.

Người cộng sản chưa bao giờ nghĩ đến chuyện kiến thiết đất nước bởi họ áp dụng toàn bộ chủ trương, đường lối của Nga và Tàu mà không cần biết rằng đường lối đó đúng hay sai với bản thể Con Người. Chính vì thế mà xã hội VN hôm nay, đạo đức xuống cấp, thành phần lãnh đạo không có đủ chất xám để đưa đất nước thoát khỏi cơn khủng hoảng hôm nay; trái lại thành phần lãnh đạo tình nguyện làm thái thú thời đại của Tàu, đặt quyền lợi của đãng lên trên quyền lợi của dân tộc.

Hơn lúc nào hết, nhu cầu kiến thiết của hôm nay cần phải bàn thảo để tìm ra giải pháp để khi dân tộc thức tỉnh như cha ông đã thức tỉnh để đánh thái thú Tàu ra khỏi VN, chúng ta đã có sự chuẩn bị cho chuyện kiến thiết, sẵn sàng để dựa vào đó xây dựng một nước VN tương lai. Công cuộc xây dựng này không phải dễ khi mà chính toàn bộ đạo đức, văn hóa, lịch sử của Việt Nam đã bị tận diệt thành một con số trừ to lớn.

Hơn lúc nào hết, chúng ta cần có một bộ phận dồn sức vào việc nghiên cứu một thể chế chính trị, một cơ chế kinh tế, một nền giáo dục tương lai của Việt Nam trên những đổ nát hiện giờ. Sự khác biệt về trình độ nhận thức của thế giới giữa người Việt trong và ngoài nước cũng là một trở ngại rất lớn trong việc kiến thiết VN tương lai. Sự hiểu biết dân chủ của người Việt trong và ngoài nước cũng là những trở ngại to lớn trong việc xây dựng một nền dân chủ từ dưới đi lên ở tương lai. Đa đảng mà không nắm rõ dân chủ ra sao để rồi cuối cùng trở thành đảng tranh như dân chủ của Hoa Kỳ hiện giờ thì VN tương lai có thể trở thành Liên Xô của hôm nay, một nền dân chủ giả hiệu với đảng tranh.

Đây là thời điểm để có một bộ phận biệt lập nhìn vào vấn đề kiến thiết, nhìn vào thực tế của đất nước để tìm ra một giải pháp thích hợp trong việc kiến thiết VN ở tương lai khi chế độ độc tài bị sụp đổ. Đây chính là thời điểm để dễ làm việc với nhau bởi chưa ai (hay đảng phái nào) nắm quyền thì sự đồng thuận trong vấn đề kiến thiết VN dễ xảy ra. Còn khi mà các đảng phái đã nắm quyền, với trình độ hiểu biết dân chủ của người Việt, không khéo đất nước ta lại bị các quốc tế lợi dụng cho quyền lợi chính trị và kinh tế của họ trên giá trả của dân tộc Việt.

Dĩ nhiên sẽ có người cho rằng chưa có trâu mà đã xây chuồng. Xin thưa là công việc kiến thiết là chuyện làm lâu dài, cần sự chuẩn bị chứ không phải chờ đợi biến cố lịch sử xảy ra rồi lúc đó mới nói đến chuyện kiến thiết. Khi mà biến cố lịch sử xảy ra thì có nhiều vấn đề mà nếu không chuẩn bị ngay từ bây giờ -- thì lúc đó chúng ta lây quay không biết phải làm gì.

Việt Nam muốn sống còn phải thay đổi. Phải đổi không phải về hình thức mà thay đổi về nội dung. Cơ chế hiện giờ là một cơ chế xây dựng trên quyền lợi đảng phái thay vì quyền lợi của Con Người Việt, dân tộc Việt. Cho nên muốn thay đổi toàn diện VN thì phải thay đổi cơ chế, đó là điều khẳng định. Nếu đã khẳng định chuyện này sẽ xảy ra thì đã đến lúc chúng ta cần phải thảo luận về chuyện kiến thiết VN và lực lượng dành vào chuyện kiến thiết này, lúc khởi đầu là nhỏ, nhưng khi đi vào thực tế thì rất lớn, vô hạn.  Chính vì thế mà chúng ta cần phải có sự chuẩn bị. 

Các bạn vẫn quan tâm đến một VN tương lai, các bạn muốn kiến thiết một VN tương lai, bắt buộc các bạn phải lựa chọn: Nghiên Cứu Một Cơ Chế để kiến thiết VN hay tham gia cách mạng (phá) để thay đổi cơ chế. Các bạn chỉ chọn một trong hai chứ không thể nào cùng lúc làm hai việc này. Nếu các bạn chọn về suy tư Kiến Thiết cho một VN tương lai thì hãy bắt tay vào để cùng nhau suy tư; cùng nhau thảo luận từng vấn đề trong việc xây dựng một VN tương lai hòa bình vĩnh cửu; dân chủ trong nhân bản, nhân tính, nhân chủ.

Vũ Hoàng Anh Bốn Phương

Tháng 3 năm 2018

Dallas, TX

(*)https://thangnghiadotorg.files.wordpress.com/2017/01/chutriluc-version-layouted-nov2016.pdf

Nguồn: https://nganlau.com/2018/04/01/kien-thiet-duoi-goc-nhin-cua-ly-dong-a-p1/

 

 

Con Người và Vật Chất

  Cuộc sống của Con Người trên thế giới này đều dựa vào vật chất. Những nhu yếu như thức ăn, uống, đồ che thân, căn nhà cư trú. Tất cả là nh...